vanban.org

Bản án 65/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 30/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Ma Kiên L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: bị cáo Ma Kiên L 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Ma Kiên L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG HÒA
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2021/HS-ST
Ngày: 30/9/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Quang Băng và ông Bế Ích Hòa.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Dương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Hòa, Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2021/TLST- HS ngày 09 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2021/QĐXXST-HS ngày 16/9/2021 đối với bị cáo:

Ma Kiên L, sinh ngày 09 tháng 5 năm 1985 tại CT, Quảng Hòa, Cao Bằng; nơi đăng ký NKTT và nơi cư trú: Xóm AL, xã CT, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Làm ruộng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; con ông: Ma Kiên H -sinh năm 1958 và con bà: Nông Thị H -sinh năm 1958; vợ: Nông Thị Hồng Ch – sinh năm 1986 (đã ly hôn). Con: 01 con sinh năm 2012.

Tiền sự: 01 tiền sự (ngày 01/02/2021 bị Công an xã CT, huyện Quảng Hòa, Cao Bằng ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản) đến nay vẫn chưa thi hành.

Nhân thân: Ngày 25/01/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 27/9/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo Ma Kiên L hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/7/2021 đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

1. Ủy ban nhân dân thị trấn QU, huyện Quảng Hòa, Cao Bằng.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lý Viết M – Chức vụ: Chủ tịch.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nông Thị H, sinh năm 1986. Địa chỉ: Xóm QP, thị trấn QU, huyện Quảng Hòa, Cao Bằng. (Là công chức địa chính – đô thị – xây dựng và môi trường UBND thị trấn QU). Vắng mặt có lý do.

2. Ông Hoàng Văn Ch – sinh năm 1994. Địa chỉ: Xóm 11, xã BT, huyện Hòa An, Cao Bằng. Vắng mặt có lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Ng – sinh năm 1975. Địa chỉ: Tổ dân phố HN, thị trấn QU, huyện Quảng Hòa, Cao Bằng. Vắng mặt có lý do.

2. Ông Phạm Văn O – sinh năm 1978. Địa chỉ: Xóm PC, thị trấn QU, huyện Quảng Hòa, Cao Bằng. Vắng mặt có lý do.

- Người làm chứng: Ông Hứa Nông Th – sinh năm 1976. Địa chỉ: Xóm XH 1, xã PH, huyện Quảng Hòa, Cao Bằng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút sáng ngày 06/5/2021, Ma Kiên L một mình đi bộ từ nhà lên Trung tâm y tế huyện Quảng Hòa để uống thuốc Methadone. Khi đi đến địa phận tổ dân phố HN, thị trấn QU, Quảng Hòa, Cao Bằng L nhìn thấy 02 nắp cống bên cạnh đường bị vỡ bê tông lộ lõi sắt bên trong, L đã đập tách phần bê tông còn bám dính vào cốt sắt ra và lấy được 26 thanh sắt có khối lượng 6,8kg rồi mang đi bán. Trên đường đi, L nhìn thấy cạnh đường có 02 chậu nhôm hỏng nên đã nhặt lấy rồi đem toàn bộ số sắt trên cùng 02 chậu nhôm bán cho chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1975, tạm trú tại tổ dân phố HN, thị trấn QU, Quảng Hòa, Cao Bằng được tổng số tiền 60.000 đồng.

Khoảng 20 giờ ngày 01/6/2021 Ma Kiên L đi đến Trường Trung học cơ sở xã CT thuộc địa phận xóm YL, xã CT, Quảng Hòa, Cao Bằng thấy trong trường đang có công trình thi công xây dựng nhà lớp học và có nhiều thanh sắt ngắn xung quanh nhà và sắt đã uốn trên tầng 2, L đi tìm nhặt 01 (một) chiếc bao tải màu trắng lấy những thanh sắt đã uốn vuông cho vào đầy bao tải rồi lấy 02 (hai) thanh sắt to buộc một đầu vào bao tải đựng những thanh sắt uốn vuông, đầu còn lại L buộc vào nhiều đoạn sắt ngắn cùng 02 (hai) chiếc búa sắt lấy được ở công trường. Sau đó L gánh toàn bộ số sắt lấy được đến giấu sau bia tưởng niệm xã CT. Đến sáng ngày 06/6/2021, L nhờ Hứa Nông Th, sinh năm 1976, trú tại xóm XH 1, xã PH, Quảng Hòa, Cao Bằng dùng xe mô tô của Th chở toàn bộ số sắt trên đến cơ sở thu mua sắt vụn của anh Phạm Văn O, sinh năm 1976, tạm trú tại xóm PC, thị trấn QU, Quảng Hòa, Cao Bằng. L nói với anh O đây là sắt do mình đi thu mua từ người khác về bán lại, nhìn thấy số sắt này có nhiều loại, một số đã hoen rỉ nên anh O không nghi ngờ gì và đã đồng ý mua toàn bộ số sắt trên với số tiền 500.000 đồng. Số tiền bán sắt được, L một mình tiêu xài cá nhân hết.

Theo kết luận định giá tài sản số 32/KL-ĐG ngày 23/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Quảng Hòa thì giá trị còn lại của 26 thanh sắt đã qua sử dụng là 113.560 đồng.

Theo Kết luận định giá tài sản số 33/KL-ĐG ngày 23/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Quảng Hòa thì tổng giá trị còn lại của 02 búa sắt, 06 thanh sắt, 3 thanh sắt nẹp trần có tổng khối lượng 13kg và nhiều thanh sắt phi 6 được uốn vuông có khối lượng 51kg là 1.068.800 đồng.

Đồ vật, tài liệu thu giữ gồm:

+ 26 thanh sắt có khối lượng 6,8kg; 02 chậu nhôm cũ đã hỏng.

+ 02 búa sắt; 06 thanh sắt (thanh dài nhất 1,48m, thanh ngắn nhất dài 0,37m đều là sắt phi 16), 03 thanh sắt nẹp trần (thanh dài nhất 1,03m; thanh ngắn nhất 0,63m) có tổng khối lượng 13kg; Nhiều thanh sắt phi 6 được uốn vuông có khối lượng 51kg. Tổng khối lượng vật chứng là 64kg.

Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKSQH ngày 08/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, Cao Bằng đã truy tố bị cáo Ma Kiên L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Ma Kiên L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Tuy nhiên, bị cáo có ý kiến không nhất trí Cáo trạng truy tố bị cáo với tình tiết định khung quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự vì đã chấp hành xong hai bản án. Bị cáo không có ý kiến và nhất trí với nội dung các bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Quảng Hòa.

Bị hại Ủy ban nhân dân thị trấn QU vắng mặt nhưng tại đơn xin vắng mặt không yêu cầu bị cáo L phải bồi thường thiệt hại vì ngày 11/8/2021 Luân đã làm lại 02 nắp cống mới đặt vào vị trí 02 nắp cống cũ để khắc phục hậu quả. Đối với số vật chứng đang tạm giữ không yêu cầu được lấy lại. Về hình phạt đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị hại Hoàng Văn Ch vắng mặt nhưng tại đơn xin vắng mặt không yêu cầu bị cáo Luân phải bồi thường thiệt hại vì đã nhận lại đủ tài sản do L trộm cắp. Về phần hình phạt đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ng, Phạm Văn O vắng mặt nhưng tại đơn xin xét xử vắng mặt không yêu cầu bị cáo L bồi thường vì đã nhận lại số tiền bỏ ra mua sắt với L.

Người làm chứng Hứa Nông Th vắng mặt nhưng tại cơ quan điều tra đã khai nhận được chở L cùng số sắt trộm cắp được đi bán nhưng Th không biết số sắt này là do L trộm cắp mà có, sau khi bán tài sản Thống cũng không được hưởng lợi gì.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu luận tội: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa đã đủ căn cứ để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo Ma Kiên L 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đều có trị giá dưới 2.000.000đ nhưng trước đó ngày 01/02/2021 bị cáo đã bị Công an xã CT ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo chưa thi hành xong quyết định này lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên hành vi của Ma Kiên L đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Xét về nhân thân của bị cáo, ngày 25/01/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 05/2016/HSST; Ngày 27/9/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 71/2017/HSST. Căn cứ công văn số 722 ngày 05/8/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng và biên bản xác minh hồi 16 giờ 00 ngày 09/8/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa thể hiện Ma Kiên L chưa thi hành xong phần bồi thường trách nhiệm dân sự của Bản án số 05/2016/HSST ngày 25/01/2016 nên bị cáo chưa được xóa án tích và được xác định là có 02 tiền án nên Cáo trạng số 59/CT-VKSQH ngày 08/9/2021 đã truy tố Ma Kiên L về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm).

Tuy nhiên, quá trình chuẩn bị xét xử, ngày 28/9/2021 Ma Kiên L cung cấp biên lai nộp tiền ngày 20/5/2016 thể hiện gia đình Ma Kiên L đã nộp số tiền 12.250.000đ để thi hành bản án số 05/2016/HSST. Ngày 29/9/2021 tiến hành xác minh tại Chi cục THADS thành phố Cao Bằng được ông Lý Văn V – Chi cục trưởng Chi cục THADS thành phố Cao Bằng cung cấp thông tin theo bản án số 05/2016/DSST thì Ma Kiên L phải bồi thường tổng số tiền 12.250.000đ, ngày 20/5/2016 đã thi hành xong.

Ngày 10/4/2018 Ma Kiên L chấp hành xong hình phạt tù của bản án số 71/2017/HSST. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 70, khoản 2 Điều 73 Bộ luật hình sự thì đến ngày 10/4/2020 Ma Kiên L đã đương nhiên được xóa án tích đối với 02 bản án trên. Do vậy, lần phạm tội này của bị cáo Ma Kiên L không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Kiến nghị Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng thực hiện đúng các quy định của Luật Thi hành án dân sự và có biện pháp khắc phục đối với Quyết định ủy thác thi hành án số 03/QĐ-CCTHADS ngày 30/10/2017 có vi phạm để việc thi hành các bản án của Tòa án được thực hiện nghiêm chỉnh, đúng pháp luật và quyền lợi của đương sự được đảm bảo.

Do có phát sinh tình tiết mới nên Cáo trạng số 59/CT-VKSQH ngày 08/9/2021 truy tố bị cáo Ma Kiên L về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là không còn chính xác. Do đó, áp dụng Điều 319, 321 Bộ luật tố tụng hình sự Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa kết luận bị cáo Ma Kiên L phạm tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

*Về phần hình sự: Bị cáo Ma Kiên L phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

* Về vật chứng: 26 thanh sắt có khối lượng 6,8kg và 02 chậu nhôm cũ đã hỏng.

* Về phần dân sự: Không có yêu cầu.

- Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 173, điểm b, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ma Kiên L mức án từ 12 đến 18 tháng tù.

+ Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc ổn định, không có tài sản nên không đề nghị áp dụng phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS

+ Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 26 thanh sắt có khối lượng 6,8kg; 02 chậu nhôm cũ đã hỏng.

+ Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tiền, không ai có yêu cầu gì nên không xem xét.

Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, Cao Bằng.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKSQH ngày 08/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, Cao Bằng đã truy tố bị cáo Ma Kiên L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên căn cứ vào Điều 319, 321 Bộ luật tố tụng hình sự, kết luận về một tội nhẹ hơn đối với bị cáo Ma Kiên L. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ma Kiên L phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như kết quả thẩm tra công khai tại phiên tòa đã làm rõ. Ngày 25/01/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 05/2016/HSST; Ngày 27/9/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 71/2017/HSST. Tại biên bản xác minh ngày 29/9/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo Bản án số 05/2016/DSST thì Ma Kiên L phải bồi thường tổng số tiền 12.250.000đ, ngày 20/5/2016 đã thi hành xong. Ngày 10/4/2018 Ma Kiên L chấp hành xong hình phạt tù của Bản án số 71/2017/HSST. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 70, khoản 2 Điều 73 Bộ luật hình sự thì đến ngày 10/4/2020 Ma Kiên L đã đương nhiên được xóa án tích đối với 02 bản án trên. Do vậy, lần phạm tội này của bị cáo Ma Kiên L không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là chưa chính xác.

Căn cứ vào Điều 319, Điều 325 Bộ luật tố tụng hình sự, căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử xét thấy việc kết luận về tội nhẹ hơn là có căn cứ và cần được chấp nhận.

Về tội danh: Do bản thân nghiện ma túy không có tiền tiêu xài nên đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể:

Sáng ngày 06/5/2021 tại tổ dân phố HN, thị trấn QU, huyện Quảng Hòa, Ma Kiên L đã trộm cắp tài sản là 26 thanh sắt lấy ra từ 02 nắp cống có trị giá 113.560 đồng.

Khoảng 20 giờ ngày 01/6/2021 tại Trường Trung học cơ sở xã CT, huyện Quảng Hòa, Ma Kiên L đã trộ cắp tài sản là 02 búa sắt; 06 thanh sắt (thanh dài nhất 1,48m, thanh ngắn nhất dài 0,37m đều là sắt phi 16); 03 thanh sắt nẹp trần (thanh dài nhất 1,03m; thanh ngắn nhấ 0,63m) có tổng khối lượng 13kg; nhiều thanh sắt phi 6 được uốn vuông có khối lượng 51kg có tổng trị giá là 1.068.800 đồng.

Tổng số tài sản Luân trộm cắp được có trị giá là 1.182.360 đồng.

Ma Kiên L trộm cắp tài sản của người khác có trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng trước đó đã có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản mà còn vi phạm.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản, đơn trình báo của các bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đối với các hành vi do mình gây ra. Bị cáo thực hiện các hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ và đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Ma Kiên L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Về nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là người nghiện ma túy, đã bị tòa án kết án 02 lần nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân để tu dưỡng rèn luyện để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội mà còn tiếp tục phạm tội. Tháng 2 năm 2021 bị Công an xã CT, huyện QU, Cao Bằng xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền, đến nay vẫn chưa thi hành.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sau khi sự việc xảy ra, ngày 11/8/2021 bị cáo Luân đã làm lại 02 nắp cống mới đặt vào vị trí 02 nắp cống cũ để khắc phục hậu quả và ngày 15/8/2021 Luân đã trả lại cho chị Ngọc số tiền 60.000 đồng, trả lại cho anh Oai số tiền 500.000 đồng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như các vấn đề khác liên quan trong vụ án phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung, nên Hội đồng xét xử xét cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và được khắc phục hậu quả; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tiền không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 26 thanh sắt có khối lượng 6,8kg; 02 chậu nhôm cũ đã hỏng. Bị hại Ủy ban nhân dân thị trấn QU, bị cáo không yêu cầu lấy lại. Xét thấy không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 02 búa sắt; 06 thanh sắt (thanh dài nhất 1,48m, thanh ngắn nhất dài 0,37m đều là sắt phi 16), 03 thanh sắt nẹp trần (thanh dài nhất 1,03m; thanh ngắn nhất 0,63m) có tổng khối lượng 13kg; Nhiều thanh sắt phi 6 được uốn vuông có khối lượng 51kg. Tổng khối lượng vật chứng là 64kg. Ngày 21/7/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Hòa đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 17/CSĐT trả lại số tài sản trên cho Hoàng Văn Chung là người quản lý hợp pháp của tài sản là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

- Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Ma Kiên L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Ma Kiên L 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và được khắc phục hậu quả; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tiền không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử: Tịch thu tiêu hủy 26 thanh sắt có khối lượng 6,8kg; 02 chậu nhôm cũ đã hỏng.

(Toàn bộ số vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Hòa đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa tại Biên bản giao nhận vật chứng, lập hồi 09 giờ 00 phút, ngày 16 tháng 9 năm 2021).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Bị cáo Ma Kiên L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Cỡ chữ