- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sàn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng X phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65 /2021/HS-ST Ngày: 27-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thiều Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Hòa;
2. Bà Đào Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngọc Bích Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Diệu Hiền, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hoàng X, sinh năm: 1994, tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp Ninh A, xã Bàu N, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng S (chết) và bà Nguyễn Thị T ; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không có. Nhân thân ngày 31/5/2006 bị công an Huyện Dương Minh Châu xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm ngàn) đồng về hành vi trộm cắp tài sản (đã nộp phạt xong).
Bị bắt tạm giữ từ ngày 31-5-2021, chuyển sang tạm giam từ ngày 07-6-2021 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Minh T, sinh năm: 1988, tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố Ninh T, Phường Ninh S, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Đinh Thị Lg ; bị cáo có vợ Võ Thị Thúy K, sinh năm: 1989 và 01 người con, sinh năm 2018, tiền án, tiền sự: không có. Bản án số 65/2018/ HS-ST ngày 30-8-2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm tù về tội “ Cưỡng đoạt tài sản” đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 07-3-2019 (đã được xóa án tích).
Bị bắt tạm giữ từ ngày 29-5-2021, chuyển sang tạm giam từ ngày 07-6-2021 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Võ Thị Tố Ng, sinh năm: 1988 và anh Mai Trung C, sinh năm: 1982; Cùng hộ khẩu thường trú: Ấp Phước H, xã Phước N, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 29 tháng 5 năm 2021, Nguyễn Hoàng X rủ Nguyễn Minh T cùng nhau đi tìm tài sản để trộm bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì T đồng ý, sau đó X điều khiển xe mô tô Wave màu đỏ không biển số chở T đến khu vực Huyện Dương Minh Châu tìm tài sản trộm cắp, khi đến khu vực ấp Tân Định 1, xã Suối Đá, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh thì T và X phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha biển số 70E1- 472.38 của chị Võ Thị Tố N, sinh năm: 1988, hộ khẩu thường trú: Ấp Phước Hội, xã Phước Ninh, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh dựng cặp hàng rào không có người trông coi nên đã lấy trộm, khi cả hai đang điều khiển xe đến khu vực ấp Phước Long 1, xã Phan, Huyện Dương Minh Châu thì T bị bắt quả tang cùng xe mô tô là phương tiện phạm tội, X chạy thoát cùng xe mô tô trộm được và bán xe này cho đối tượng tên Tý (không rõ họ tên địa chỉ) được 1.400.000 đồng tiêu xài cá nhân, đến ngày 31/5/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tạm giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với X.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Hoàng X và Nguyễn Minh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 03/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Huyện Dương Minh Châu, kết luận:
01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, biển số 70E1 – 28472, xe đã qua sử dụng có giá trị là 11.700.000 đồng.
Do Nguyễn Hoàng X và Nguyễn Minh T không có tài sản riêng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu không tiến hành kê biên.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Võ Thị Tố N, sinh năm: 1988 và anh Mai Trung C yêu cầu bồi thường số tiền 11.700.000 đồng.
Tại phiên tòa:
Cáo trạng số 68/CT-VKS-DMC ngày 08-9-2021 truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng X và Nguyễn Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 585, 589 của Bộ luật dân sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng X từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 ; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 585, 589 cuả Bộ luật dân sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo tiếp tục bồi thường cho chị Võ Thị Tố N và anh Mai Trung C số tiền 11.700.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Bị cáo X và T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu và không có ý kiến gì tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát;
Bị cáo X và T nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình, hứa không tái phạm nữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của hành vi, Quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Vào ngày 29-5-2021, tại ấp Tân Định 1, xã Suối Đá, Huyện Dương Minh Châu Nguyễn Hoàng X và Nguyễn Minh T đã thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, biển số 70E1 – 28472 trị giá số tiền 11.700.000 đồng
Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng X và Nguyễn Minh T là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi trộm cắp tài sản không những xâm phạm tới quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng tới an ninh trật tự tại địa phương, các bị cáo nhận thức được điều này nhưng do lười lao động nên đã thực hiện hành vi trộm cắp xe của chị Ng và anh C trị giá số tiền 11.700.000 đồng.
Vì vậy cần có mức hình phạt nghiêm đối với các bị cáo mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng chống tội phạm. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hoàng X và Nguyễn Minh T là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, thấy rằng:
Đối với bị cáo X là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp và là người rủ bị cáo Tiến. Khi thực hiện hành vi bị cáo chở theo bị cáo T nhưng không có sự bàn bạc, phân công, không có sự chuẩn bị về công cụ, phương tiện phạm tội, một mình bị cáo thực hiện hành vi và tiêu thụ tài sản trộm được; do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm chính và hình phạt cao hơn bị cáo Tiến.
Bị cáo T được bị cáo X chở nhưng trên đường đi bị cáo X không nói rỏ cho bị cáo T biết là đến những địa điểm cụ thể nào để trộm và không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp xe của chị Ng và anh C nhưng là người giúp sức cho bị cáo X, do vậy bị cáo chịu trách nhiệm nhẹ hơn bị cáo X.
Về tình tiết tăng nặng: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo X phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo phạm tội giản đơn.
Tuy nhiên căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Hội đồng xét thấy hành vi “Trộm cắp tài sản” của các bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội các bị cáo chưa bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo có thời gian cải tạo trở thành một công dân tốt.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo X tự nguyện đồng ý bồi thường số tiền 7.800.000 đồng (vì số tiền bán xe một mình bị cáo tiêu xài cá nhân), bị cáo T tự nguyện bồi thường số tiền 3.900.000 đồng cho chị Ng và anh C.
Về án phí sơ thẩm trong vụ án: Căn cứ vào các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo X và T mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăn nghìn) đồng
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo X phải chịu: 390.000 đồng, bị cáo T phải chịu: 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 585, 589 của Bộ luật dân sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng X phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng X 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31-5-2021.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29-5-2021.
3. Về biện pháp tư pháp:
3.1 Bị cáo Nguyễn Hoàng X tiếp tục bồi thường số tiền 7.800.000 đồng, bị cáo Nguyễn Minh T bồi thường số tiền 3.900.000 đồng cho chị Võ Thị Tố N và anh Mai Trung C.
3.2 Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đỏ, không biển số, số khung RRKWCH4UM5X002778, số máy: VTT1P52FMHZ002778 (xe đã qua sử dụng).
(Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06-9-2021).
4. Án phí hình sự: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bị cáo Nguyễn Hoàng X, Nguyễn Minh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Án phí dân sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng X phải chịu: 390.000 (ba trăm chín mươi ngàn) đồng, bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - Sở Tư pháp; - VKSND H.DMC; - CQĐT CA H.DMC; - Nhà tạm giữ CA H.DMC; - Chi cục THADS H.DMC; - PV06 – Công an tỉnh TN; - Vụ Giám đốc kiểm tra I; - Bị cáo; Bị hại - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thiều Thị Phượng |