- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Nhật M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Nhật M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 65/2021/HS-ST Ngày: 29-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Thanh Thà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Lợi;
2. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Diệu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2021/HSST-QĐ ngày 17/3/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Nhật M, sinh năm: 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 51 Trần Nhật Duật, TDP Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở: Số 86/1 ấp Xuân Thới Đông 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K và bà Trần Thị Ánh N; bị cáo chưa có vợ và con; anh chị em ruột gồm 03 người kể cả bị cáo.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 29/8/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Bị cáo chấp hành án phạt tù tại Trại giam Mỹ Phước thuộc tỉnh Tiền Giang theo Quyết định thi hành án hình phạt tù số 361/2020/QĐ-CA ngày 04/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/3/2021.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/3/2021.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Trần Thị H, sinh năm 1975 (có mặt);
Địa chỉ: Số 74A đường số 458, Tổ 2, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 17/8/2019, Trần Nhật M, Nguyễn Thanh Đ, Lì B và P chưa r lai lịch) gặp nhau tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, Lì B rủ M, Đ và P đi trộm xe máy bán lấy tiền tiêu xài. Tất cả đồng ý, Lì B điều khiển xe gắn máy hiệu SH biển số 66L1-54854 chở M, P điều khiển xe Exciter không r biển số chở Đ. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 17/8/2019, đi đến trước cửa nhà chị Trần Thị H tại ấp Thạnh An, xã Trung An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, Lì B phát hiện 01 chiếc xe gắn máy hiệu amaha Exciter biển số 59 2-784.29 không người trông coi nên d ng xe lại. Lì B và Đ ở bên ngoài cảnh giới, M lén lút cầm đây đoản dài 06cm, đầu d p trên tay phải cắm vào ổ khóa công tắc xe nhưng xe không nổ máy nên M dắt xe biển số 59 2-784.29 ra ngoài. P kích IC nổ máy và một mình đi bán xe cho một thanh niên không r lai lịch với giá 12.000.000 đồng. P chia cho M 2.500.000 đồng, M đã tiêu xài hết, P chia cho Đ 3.000.000 đồng, Đ đã tiêu xài hết, còn lại 6.500.000 đồng P và Lì B tự chia nhau. Cây đoản M dùng để lấy trộm xe là của Lì B, M đã trả lại cho Lì Beo.
Ngày 30/9/2019, Công an huyện Hóc Môn kiểm tra phát hiện Trần Nhật M có hành vi tàng tr 02 con dao dài khoảng 50cm tại quán cà phê Phố Xưa thuộc xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nên mời về làm việc, M khai nhận thực hiện vụ trộm cắp chiếc xe máy hiệu amaha Exciter biển số 59 2-784.29 của bà Trần Thị H nên công an huyện Hóc Môn đã chuyển đối tượng cùng hồ sơ về Công an huyện Củ Chi thụ lý giải quyết.
Trích xuất hình ảnh camera nhà chị H thì thấy có 02 thanh niên đi xe gắn máy hiệu Honda SH màu trắng d ng xe trước cửa nhà, 01 thanh niên mặc áo màu xanh, quần sọoc đen l n vào lấy trộm xe máy của chị H rồi cả hai cùng tẩu thoát, tiến hành cho M nhận dạng, M xác nhận M là người trong hình ảnh. Ngày 12/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn ra quyết định truy nã đối với Trần Nhật M về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 18/6/2020, Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh bắt được Trần Nhật M theo Quyết định truy nã trên.
Bản kết luận định giá tài sản số 219/KL-HĐĐGTS ngày 04/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi kết luận: 01 chiếc xe amaha loại Exciter, màu đỏ đen, biện số 59 2-784.29, số khung 0610FY-171018, số máy G3D4E-183935 đã qua sử dụng có giá 31.000.000 đồng.
Vật chứng vụ án: 01 USB chứa hình ảnh của vụ trộm.
Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKS.CC ngày 26 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Trần Nhật M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi gi quyền công tố luận tội: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo cùng với Nguyễn Thanh Đ, Lì B và P đã có hành vi trộm cắp tài sản của bà Trần Thị H với tổng giá trị tài sản thiệt hại là 31.000.000 đồng. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Nhật M phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án t 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Vật chứng vụ án: 01 USB chứa hình ảnh vụ trộm, đây là chứng cứ của vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
Phần dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án số 54/2020/HS-ST ngày 29/4/2020 nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị Hội đồng xét xử truy thu lại của bị cáo tiền thu lợi bất chính là 2.500.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo trình bày: Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố là đúng. Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và không có ý kiến gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn, hối cải về lỗi lầm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Bị hại bà Trần Thị H trình bày: Do Nguyễn Thanh Đ đến nay vẫn chưa bồi thường cho bà số tiền 31.000.000 đồng, bà đã đến Cơ quan Thi hành án dân sự yêu cầu nhưng vẫn chưa thi hành được nên tại phiên tòa hôm nay bà yêu cầu bị cáo Trần Nhật M phải bồi thường cho bà số tiền 31.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo th a nhận cùng với Nguyễn Thanh Đ, Lì B và P đã có hành vi trộm cắp tài sản của bà Trần Thị H với tổng giá trị tài sản thiệt hại là 31.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Nhật M phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở h u tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, phạm pháp, thế nhưng bị cáo vẫn thực hiện, chỉ với mục đích là cần có tiền tiêu xài cá nhân. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng tr ng trị, răn đe, giáo dục bị cáo trong đấu tranh phòng chống tội phạm, phòng ng a cho toàn xã hội.
Về giảm nh trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về nhân thân: Ngày 29/8/2020, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Chấp hành án xong ngày 18/3/2021.
Vật chứng vụ án: 01 USB chứa hình ảnh vụ trộm, đây là chứng cứ của vụ án nên Hội đồng xét xử tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 31.000.000 đồng. Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường đã được giải quyết tại Bản án số 54/2020/HS-ST ngày 29/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét cần buộc bị cáo phải nộp lại tiền thu lợi bất chính 2.500.000 đồng.
Đối với Đối với hành vi Trộm cắp tài sản của Nguyễn Thanh Đ, đã xét xử 02 năm tù theo Bản án số 54 ngày 29/04/2020 của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với Lì B và P chưa r lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi tiếp tục làm r xử lý sau, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Nhật M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trần Nhật M 02 hai) năm tù, thời hạn tù tính t ngày 18/3/2021.
- Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Buộc bị cáo Trần Nhật M phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.500.000 hai triệu năm trăm ngàn đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 USB có chứa hình ảnh vụ án theo Lệnh xuất kho vật chứng số 54/LXK ngày 22/3/2021 và Phiếu xuất kho vật chứng số 54/LXK ngày 22/3/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi.
- Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo Trần Nhật Minh phải chịu 200.000 hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Áp dụng Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Củ Chi; - Công an huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - Sở tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu: Vp, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHI N TÒA đã ký) Châu Thị Thanh Thà |