- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Aí T và Nguyễn Long P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Ái T được ly hôn với ông Nguyễn Long P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:65/2021/HNGĐ-ST Ngày 16 tháng 11 năm 2021 V/v: ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C – TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa Pên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Hạnh
- Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Nhất Luân
- Ông Trịnh Lương Vượng
- Thư ký Tòa án ghi biên bản Pên tòa: Bà Nguyễn Hoa Kim Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa tham gia Pên tòa: Ông Trần Xuân Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 16/11/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 97/2021/TLST-HNGĐ ngày 26/4/2021 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/10/2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ái T, sinh năm: 1995; địa chỉ: Thôn Tân Xương 2, xã Suối Cát, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Có đơn xét xử vắng mặt
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Long P, sinh năm: 1990; địa chỉ: Thôn Khánh Thành Bắc, xã Suối Cát, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ái T trình bày:
- Về yêu cầu ly hôn: Bà T và ông P tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Suối Cát, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 79 ngày 25/9/2018. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân ông P không lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt, về tới nhà thì chửi bới, xúc phạm vợ, không quan tâm đến con. Bà T phải tự trang trải kinh tế gia đình, nhiều lần góp ý nhưng ông P không thay đổi. Từ tháng 3/2021, hai bên sống ly thân. Nay bà T không còn tình cảm với ông P nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn.
- Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông P có một con chung là cháu Nguyễn Mộc Linh C, sinh ngày 04/11/2019. Cháu khỏe mạnh, không có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con.
- Về Ca tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Long P không có ý kiến bằng văn bản theo Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt theo giấy triệu tập làm việc, Thông báo về Pên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn Pên tòa của Tòa án.
Theo biên bản xác minh ngày 10/6/2021 tại Công an xã Suối Cát, ông Nguyễn Long P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Khánh Thành Bắc, xã Suối Cát, huyện C, tỉnh Khánh Hòa và đang sinh sống, có mặt tại địa phương.
Tại Pên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu ý kiến:
Về tuân theo pháp luật tố tụng: quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ái T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại Pên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại Pên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tranh chấp về ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Ái T và ông Nguyễn Long P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn ông P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các Pên tòa ngày 28/10/2021 và ngày 16/11/2021 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy đinh tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu ly hôn: bà T và ông P tự nguyện kết hôn với nhau năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã Suối Cát, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 79 ngày 25/9/2018; đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa bà T và ông P phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân ông P không có trách nhiệm với gia đình, vợ chồng không còn yêu thương nhau, dẫn đến thường xuyên xảy ra kình cãi, xúc phạm nhau. Bà T và ông P đã cho nhau cơ hội hàn gắn nhưng không giải quyết được mâu thuẫn. Bà T xác định không còn tình cảm đối với ông P. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông P là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà T được ly hôn với ông P.
Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông P có một con chung là cháu Nguyễn Mộc Linh C, sinh ngày 04/11/2019. Cháu C hiện dưới 36 tháng tuổi và đang sống với bà T; vì vậy xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung chưa thành niên, đảm bảo sự phát triển lành mạnh, toàn diện, ổn định về người trực tiếp trông nom, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu C cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, ông P vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, sau này nếu có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
Về án phí: bà T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Ái T được ly hôn với ông Nguyễn Long P.
2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Nguyễn Mộc Linh C, sinh ngày 04/11/2019 cho bà Nguyễn Thị Ái T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Nguyễn Thị Ái T không yêu cầu ông Nguyễn Long P cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, vì lợi ích của con khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung và nợ chung: bà Nguyễn Thị Ái T và ông Nguyễn Long P được quyền khởi kiện vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
4. Về án phí: bà Nguyễn Thị Ái T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0008724 ngày 26/4/2021 của C cục Thi hành án dân sự huyện C, bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
5. Nguyên đơn có mặt tại Pên tòa, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại Pên tòa, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện C; - C cục THADS huyện C; - UBND xã Suối Cát; - Những người tham gia tố tụng. - Lưu án văn, hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa Pên tòa Bùi Thị Mỹ Hạnh |