vanban.org

Bản án 65/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Văn C. Về con chung: Bà Lê Thị Ngọc H được trực tiếp nuôi dạy con chung tên: Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 03/02/2016. Ông Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 65/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 16 – 3 – 2021
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Ái;

2. Ông Phan Phước Tân.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Đỗ Ngọc Mai Thy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Triết - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 453/2020/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/01/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 78/2021/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1994; địa chỉ: Khu phố Lăng 2, thị trấn VL, huyện GCĐ, tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ 13, ấp QK, xã QT, huyện AP, tỉnh An Giang.

Bà H vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông C vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 06/11/2020 của bà Lê Thị Ngọc H; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông C tự tìm hiểu yêu thương nhau trước rồi được cha mẹ hai bên đồng ý đứng ra tổ chức đám cưới vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân thị trấn VL, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang.

Sau khi kết hôn bà H và ông C sống tại khu phố Lăng 2, thị trấn VL, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang. Đến cuối năm 2013 thì bà H và ông C thuê nhà ở riêng. Thời gian đầu chung sống H phúc nhưng đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông C thường ghen tuông vô cớ rồi dùng lời lẽ thô tục, xúc phạm nặng nề với bà. Vì muốn giữ H phúc gia đình và nghe lời động viên của gia đình nên bà H cố gắng khuyên ngăn nhưng ông C không thay đổi tính tình mà còn phát sinh thêm tật xấu. Đến tháng 6/2020 biết bà cấn thai nhưng ông C không thừa nhận là con của mình, sau đó ông C bỏ nhà đi đến nay không liên lạc được. Bà và ông C ly thân nhau từ thời điểm đó cho đến nay. Không hàn gắn tình cảm. Do cuộc sống hôn nhân không H phúc nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông C.

Về con chung: Quá trình chung sống, hai ngưởi sinh được 01 (một) con chung tên: Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 03/02/2016. Hiện con chung đang sinh sống cùng bà H. Khi ly hôn bà H yêu cầu được nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập ông C để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 21/12/2020 nhưng ông C vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông C, ông C cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án.

Ngày 21/12/2020, bà H có đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án, yêu cầu không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt khi vụ án được đưa ra xét xử do nhà xa.

- Về tài liệu, chứng cứ:

Tài liệu, chứng cứ do bà H giao nộp: Bản tự khai ngày 06/11/2020. Bản photo Giấy chứng nhận kết hôn số 76 ngày 17/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị trấn VL, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang; bản photo Giấy khai sinh mang tên Nguyễn Minh Ph; bản sao Sổ hộ khẩu gia đình mang tên Lương Thị Nh; bản photo Giấy chứng minh nhân dân mang tên Lê Thị Ngọc H; bản chính Bản tự khai ngày 22/12/2020 và bản photo Giấy chứng minh nhân dân cùng mang tên Võ Ngô Ngọc Th; bản chính Bản tự khai ngày 22/12/2020 và bản photo Giấy chứng minh nhân dân cùng mang tên Huỳnh Thanh Nh.

Tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản xác minh ngày 13/01/2021.

Tại phiên tòa, do bà H và ông C cùng vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố lời trình bày của bà H, bản tự khai của bà Võ Ngô Ngọc Th và ông Huỳnh Thanh Nh, biên bản xác minh ngày 13/01/2021 tại ấp QK, xã QT, huyện AP và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

- Theo bản tự khai ngày 22/12/2020, bà Võ Ngô Ngọc Th cho biết: Bà Thanh buôn bán cạnh bà H tại chợ VL nên nhiều lần chứng kiến mâu thuẫn giữa bà H và ông C. Mâu thuẫn giữa hai ngưởi cũng đã lâu, ông C nhiều lần ra chợ chửi mắng và có hành vi bạo lực gia đình đối với bà H. Sau đó, được biết ông C bỏ nhà đi cho đến nay.

Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 03/02/2016. Con chung hiện đang sống với bà H. Bà Th thường đưa rước cháu Phát đi học khi bà H bận buôn bán.

Về tài sản chung, nợ chung: Không rõ.

Do nhà xa nên bà Th yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

- Theo bản tự khai ngày 22/12/2020, ông Huỳnh Thanh Nh cho biết: Ông là anh ruột của bà H, bà H trước đây sống chung nhà với ông, về sau ra sống riêng nhưng bà H vẫn thường xuyên về nhà nên ông Nhàn biết rõ chuyện mâu thuẫn vợ chồng của bà H. Hôn nhân giữa bà H và ông C là do tự tìm hiểu và tiến đến hôn nhân vào năm 2013, không tổ chức đám cưới nhưng có làm mâm cơm ra mắt tổ tiên có sự chứng kiến của hai bên gia đình, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, ông C thường xuyên ghen tuông và dùng lời lẽ thô tục xúc phạm bà H. Khi bà H cấn thai đứa con thứ hai thì ông C cho rằng là con của người khác, rồi bỏ nhà đi đến nay, không liên lạc với gia đình. Hai người sống ly thân nhau từ đó, không hàn gắn tình cảm.

Về con chung: Có một con chung hiện đang sống với bà H.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Do nhà xa, bận công việc làm ăn nên ông Nhàn yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

- Tại biên bản xác minh ngày 13/01/2021, đại diện Ban ấp Quốc Khánh, xã Quốc Thái, huyện An Phú cung cấp thông tin như sau: Hiện ông Nguyễn Văn C vẫn còn hộ khẩu thường trú tại: Tổ 13, ấp QK, xã QT, huyện AP, tỉnh An Giang chưa chuyển đi nơi khác. Cha ruột của ông C là ông Nguyễn Văn Th (C), chú ruột tên Nguyễn Văn S, bà nội tên Phạm Thị H đều đã qua đời. Trước đây ông C sinh sống ở địa phương nhưng thời gian sau này đi làm ăn xa thỉnh thoáng mới về quê thăm nhà. Xung quanh nhà ông C vẫn còn họ hành sinh sống.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Ông Th vắng mặt lần thứ hai không lý do; bà H có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt; người làm chứng bà L đã có lời khai trực tiếp với Tòa án và có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại Điều 207, Điều 228, Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Theo trình bày của bà H và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà H và ông C đã đến mức trầm trọng, ly thân nhau nhiều năm, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và yêu cầu được nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung, đương sự khai không có nên không xem xét, giải quyết.

Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn ông Nguyễn Văn C đều vắng mặt không lý do; đồng thời, ông C đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Như vậy, ông C đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc H có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt; người làm chứng bà Võ Ngô Ngọc Th và ông Huỳnh Thanh Nh có yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, vụ án được xem là không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 228, Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết:

Hôn nhân giữa bà H và ông C hình thành do tự tìm hiểu nhau và tiến tới hôn nhân vào năm 2013, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn Vàm Láng, huyện Gò Công Đông cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 76 ngày 17/7/2018. Ông C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: ấp QK, xã QT, huyện AP, tỉnh An Giang nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H cho rằng, quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau H phúc, nhưng đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do ông C hay ghen tuông vô cớ rồi dùng lời lẽ thô tục xúc phạm bà H, có hành vi bạo lực gia đình và nghi ngờ bà H mang thai đứa con thứ hai không phải của ông, từ đó ông bỏ đi, không liên lạc gia đình. Những mâu thuẫn mà bà H trình bày được ông Huỳnh Thanh Nh và bà Võ Ngô Ngọc Th ở cùng xóm xác nhận trong bản tự khai cùng ngày 22/12/2020.

Nam nữ khi tiến đến hôn nhân đều hướng đến mục đích là xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững nhưng giữa bà H và ông C lại tồn tại những mâu thuẫn không thể hàn gắn dẫn đến đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Việc ông C có lời lẽ xúc phạm và có hành vi bạo lực gia đình đối với bà H. Đồng thời, bà H và ông C sống ly thân nhau từ năm 2017 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm mặc dù đã được gia đình hòa giải, động viên đã cho thấy sự vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Từ những phân tích nêu trên, có thế nhận thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông C đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không H phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà H và ông C sinh được một con chung là cháu Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 03/02/2016. Hiện con chung đang sinh sống cùng bà H. Khi ly hôn bà H yêu cầu được nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi xem xét điều kiện nuôi con của bà H cũng như sự đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quyết định để bà H được trực tiếp nuôi dạy con chung

Bà H không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã giải thích cho bà H về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với người không trực tiếp nuôi con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chung, nhưng bà H vẫn giữ nguyên ý kiến của mình. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định công nhận sự tự nguyện của bà H trong việc không yêu cầu ông C cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Ông C cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà H. Ngược lại, bà H cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, nếu sau này ông C có yêu cầu về tài sản chung, nợ chung thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác:

Bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; ông C không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.

Về quyền kháng cáo: Bà H và ông C có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ các điều 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.

2. Về con chung: Bà Lê Thị Ngọc H được trực tiếp nuôi dạy con chung tên: Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 03/02/2016. Ông Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.

Ông Nguyễn Văn C cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà Lê Thị Ngọc H. Ngược lại, bà Lê Thị Ngọc H cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Văn C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Bà Lê Thị Ngọc H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2019/0004942 ngày 18/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Ông Nguyễn Văn C không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.

4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt bà Lê Thị Ngọc H và ông Nguyễn Văn C. Bà H và ông C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Giấy chứng nhận kết hôn số 76 ngày 17/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị trấn Vàm Láng, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang cấp cho bà Lê Thị Ngọc H và ông Nguyễn Văn C (theo bản sao giấy chứng nhận kết hôn số 76 ngày 17/7/2018) không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ