vanban.org

Bản án 65/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Thương P đối với ông Huỳnh Bạch D. Bà Trần Thương P được ly hôn với ông Huỳnh Bạch D. Về con chung: Giao con chung là Huỳnh Ngọc H, sinh ngày 16/7/2009 và Huỳnh Gia B, sinh ngày 18/5/2012 cho bà Trần Thương P trực tiếp nuôi dưỡng, hiê ̣… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thanh P - Huỳnh Bạch D"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2020/HNGĐ-ST
Ngày 24 tháng 9 năm 2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

Tthành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Lam

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Khưu Liên Dung

2- Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Kép - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lý Thể Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 230/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thương P – sinh năm 1978

Địa chỉ: Số B, khóm C, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Huỳnh Bạch D, sinh năm 1979

Địa chỉ: Số B, Khóm B, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thương P trình bày:

- Về hôn nhân: Bà D và ông Huỳnh Bạch D tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2008, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường H, thị xã B, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 15/12/2008. Thời gian đầu kết hôn vợ chồng chung sống bên gia đình chồng, hai năm sau bị cha chồng đuổi vợ chồng ra khỏi nhà do ông D thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn và quậy phá. Sau đó vợ chồng về bên cha mẹ bà D cất nhà ở để sinh sống, trong quá trình chung sống ông D vẫn thường xuyên nhậu nhẹt, chửi bới và hành hung bà D nhiều lần, có lần đánh bà chấn thương phần mềm trước ngực. Đến ngày 13/6/2020 ông D đánh bà gãy xương bàn tay và có đi khám bệnh, chụp X – Quang, đăng bột. Vợ chồng đã sống ly thân từ ngày ông D đánh bà gãy tay đến nay. Do cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, nên bà xin ly hôn với ông D.

- Về con chung: Quá trình chung sống, có 02 con chung tên Huỳnh Ngọc H, sinh ngày 16/7/2009 và Huỳnh Gia B, sinh ngày 18/5/2012. Con đang sống cùng bà D. Khi ly hôn bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Huỳnh Bạch D vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Giải quyết đúng thẩm quyền, cấp, tống đạt các văn bản đúng quy định. Thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định, không thuộc trường hợp phải thay đổi ai. Vì vậy, về mặt thủ tục tố tụng, Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị.

- Về nội dung vụ án:

Có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Thương P đối với ông Huỳnh Bạch D.

Về con chung, có đủ cơ sở giao hai con chung cho bà D nuôi dưỡng, ông D không cấp dưỡng nuôi con do bà D không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến của đương sự; quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là bà Trần Thương P khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Bạch D, nên đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông D có nơi cư trú tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Xét thấy bà Trần Thương P có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Huỳnh Bạch D đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Tòa án xét xử vắng mặt bà D, ông D theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Bà Trần Thương P và ông Huỳnh Bạch D tự nguyện chung sống như vợ chồng vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường H, thị xã B, tỉnh Bạc Liêu ngày 15/12/2008. Nên hôn nhân giữa bà D và ông D là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Theo quy định pháp luật, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Nhưng bà D xác định quá trình chung sống ông D thường xuyên nhậu nhẹt, chửi bới và hành hung bà D nhiều lần, có lần đánh bà chấn thương phần mềm trước ngực. Đến ngày 13/6/2020 ông D đánh bà gãy xương bàn tay và có đi khám bệnh, chụp X – Quang, đăng bột. Vợ chồng đã sống ly thân từ ngày ông D đánh bà gãy tay đến nay. Ông D không có lời trình bày. Mặt khác, Hội đồng xét xử xét thấ y Tòa án đã tiế n hà nh hòa giả i nhiều lần nhưng ông D đều vắng mặt tại các buổi hòa giải. Qua đó cho thấy ông D không có thiện chí hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấ y mục đich của hôn nhân giữa bà D và ông D không đa ̣t được.

́

Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình , Hô ̣i đồ ng xé t xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà D, cho bà D được ly hôn với ông D.

Về con chung: Bà D xác định quá trình chung sống, có hai 02 con chung tên Huỳnh Ngọc H, sinh ngày 16/7/2009 và Huỳnh Gia B, sinh ngày 18/5/2012. Hai con đang sống cùng bà D. Khi ly hôn bà D yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Ông D không thể hiện ý kiến có nguyện vọng nuôi con.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở giao con chung là Huỳnh Ngọc H, sinh ngày 16/7/2009 và Huỳnh Gia B, sinh ngày 18/5/2012 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà D không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con, cho nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà D xác định trong quá trình chung sống, bà và ông D không có tạo lập được tài sản chung và cũng không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Ông D không có ý kiến trình bày. Do đó, Hô ̣i đồng xét xử không đă ̣t ra xem xé t.

Về án phí: Bà Trần Thương P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Thương P đối với ông Huỳnh Bạch D. Bà Trần Thương P được ly hôn với ông Huỳnh Bạch D.

2. Về con chung: Giao con chung là Huỳnh Ngọc H, sinh ngày 16/7/2009 và Huỳnh Gia B, sinh ngày 18/5/2012 cho bà Trần Thương P trực tiếp nuôi dưỡng, hiê ̣n con chung đang số ng cù ng bà D, cho nên bà D được tiếp tục nuôi dưỡng con chung.

Ông Huỳnh Bạch D được quyền thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.

Ông Huỳnh Bạch D không cấp dưỡng nuôi con do bà Trần Thương P không yêu cầu.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình bà Trần Thương P phải chịu 300.000 đồng. Bà D đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0006916 ngày 30/6/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu được chuyển thu án phí 300.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ