- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Lý Thị Hồng H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2020/HNGĐ-ST Ngày: 25 – 9 – 2020 “V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Hà Quốc Tuấn.
2/ Bà Huỳnh Như Ý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Qual – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hướng, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 70/2020/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2020 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2020/QĐXXST–HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lý Thị Hồng H, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh S.
Bị đơn: Anh Thạch K, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Lý Thị Hồng H trình bày:
Chị H với anh Thạch K kết hôn với nhau năm 2005 (đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh S và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 173 ngày 17 tháng 8 năm 2011). Thời gian đầu hai người sống hạnh phúc đến tháng 01 năm 2020, hai người phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng ý kiến, cuộc sống vợ chồng không còn hợp nhau. Hai người không còn chung sống với nhau từ tháng 01 năm 2020. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh K.
Trong quá trình chung sống chị H với anh K có hai con chung tên Thạch Thị Mỹ D, sinh ngày 14/02/2006 và Thạch Thị Mỹ D1, sinh ngày 25/8/2014. Hiện cháu D đang sống cùng chị H. Còn cháu D1 đang sống cùng anh K.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay chị Lý Thị Hồng H yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về Hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Thạch K.
- Về con chung: Yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Thạch Thị Mỹ D, sinh ngày 14/02/2006. Không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Thạch Thị Mỹ D1, sinh ngày 25/8/2014 đồng ý giao cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Thạch K không có lời trình bày do vắng mặt.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 70/2020/TB-TLVA ngày 16 tháng 3 năm 2020, tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Thạch K nhưng anh K không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị Hồng H. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với anh K để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh K đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về việc vắng mặt anh K, không tiến hành hòa giải được và anh K cũng không có lời khai trong hồ sơ vụ án. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lý Thị Hồng H ly hôn với anh Thạch K. Về con chung: Giao cháu Thạch Thị Mỹ D, sinh ngày 14/02/2006 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Giao cháu Thạch Thị Mỹ D1, sinh ngày 25/8/2014 cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Chị H và anh K không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay anh Thạch K và chị Lý Thị Hồng H đều vắng mặt nhưng nguyên đơn chị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt còn anh K thì vắng mặt lần thứ 2 không rõ lý do. Do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với chị H và anh K.
Về nội dung: Nguyên đơn chị Lý Thị Hồng H vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án cho ly hôn với anh Thạch K.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lý Thị Hồng H với anh Thạch K là hôn nhân hợp pháp (hai người có đăng ký kết hôn). Trước khi kết hôn hai người có tìm hiểu nhau trước, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 01 năm 2020, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng. Hai người không còn chung sống với nhau từ đó đến nay, thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, chăm sóc nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chị H yêu cầu được ly hôn với anh K là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: Hai cháu Thạch Thị Mỹ D, sinh ngày 14/02/2006 và Thạch Thị Mỹ D1, sinh ngày 25/8/2014. Chị H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi cháu D còn anh K trực tiếp nuôi cháu D1, xét thấy chị H và anh K có đủ điều kiện nuôi con, cháu D1 đang sống cùng anh K và cháu D có nguyện vọng sống cùng mẹ nên yêu cầu này là có căn cứ được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị H và anh K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chị H yêu cầu nên chị H phải chịu theo luật định.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Lý Thị Hồng H.
- Về hôn nhân: Chị Lý Thị Hồng H được quyền ly hôn với anh Thạch K.
- Về con chung: Giao cháu Thạch Thị Mỹ D, sinh ngày 14/02/2006 cho chị Lý Thị Hồng H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao cháu Thạch Thị Mỹ D1, sinh ngày 25/8/2014 cho anh Thạch K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục. Chị H và anh K không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh K và chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lý Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2017/0002056 ngày 03/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Như vậy chị H đã nộp xong án phí.
Án sơ thẩm được xét xử công khai báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND huyện T; -Chi cục THA huyện T; -TAND tỉnh S (P.KTNV&THA); -Các đương sự. - UBND xã T, huyện T, tỉnh S; -Lưu HSVA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Hoàng |