vanban.org

Bản án 65/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Kiều S và ông Lê Thành C.

Về án phí: Bà Lê Kiều S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0011597 ngày 13 tháng 5 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà S đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Lê Kiều S với ông Lê Thành C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Kiều S và ông Lê Thành C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 13-7-2020
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Minh Hoàng.

Ông Trần Hoàng Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Huệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Trung Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Kiều S, sinh năm 1980 (xin vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh C.

- Bị đơn: Ông Lê Thành C, sinh năm 1966 (xin vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp G, xã N, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 5 năm 2020 nguyên đơn bà Lê Kiều S trình bày: Bà và ông Lê Thành C tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện P, tỉnh C. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm nên giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi với nhau và không còn chung sống từ năm 2016 đến nay. Do tình cảm không còn dành cho nhau, hôn nhân không tìm được hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Thành C. Trong quá trình chung sống bà và ông C không có con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 05 tháng 6 năm 2020 bị đơn ông Lê Thành C trình bày: Ông và bà S tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống ông và bà S không có con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung. Bà S yêu cầu ly hôn, ông đồng ý ly hôn vì giữa ông và bà S chung sống không có hạnh phúc.

- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lê Kiều S, cho bà Lê Kiều S ly hôn với ông Lê Thành C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Kiều S yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Lê Thành C. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Lê Kiều S là nguyên đơn, ông Lê Thành C là bị đơn đã đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Lê Kiều S và ông Lê Thành C.

Về quan hệ hôn nhân : Bà S và ông C tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện P, tỉnh C nên hôn nhân của bà Lê Kiều S với ông Lê Thành C là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Bà Lê Kiều S yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Lê Thành C vì trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và vợ chồng không còn chung sống từ năm 2016 đến nay; tại biên bản lấy lời khai ngày 05 tháng 6 năm 2020 ông C cho rằng trong cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên ông đồng ý ly hôn với bà Lê Kiều S. Điều này cho thấy vợ chồng không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đở lẫn nhau nên tình trạng hôn nhân giữa bà Lê Kiều S với ông Lê Thành C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lê Kiều S về việc yêu cầu ly hôn với ông Lê Thành C.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà S và ông C không có con chung nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung bà Lê Kiều S và ông Lê Thành C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị như nêu trên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà S phải chịu 300.000đ, bà S đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51; Điều 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Kiều S và ông Lê Thành C.

- Về án phí: Bà Lê Kiều S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0011597 ngày 13 tháng 5 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà S đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, bà Lê Kiều S và oog Lê Thành C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ