vanban.org

Bản án 65/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBFC) yêu cầu bà Đinh Thùy T trả số tiền 32.

Buộc bà Đinh Thùy T trả cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBFC) số tiền 32.021.000 đồng (Ba mươi hai triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn đồng) (bao gồm nợ gốc 21.335.133 đồng và nợ lãi 10.685.867 đồng), trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "thinh vuong- Linh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBFC) yêu cầu bà Đinh Thùy T trả số tiền 32.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 65/2020/DS-ST
Ngày: 28 - 02 - 2020
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ôn Kim Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Nguyễn Thị Nguyên

2- Bà Nguyễn Thị Thúy Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 829/2019/TLST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 553/2020/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2020/QĐST-DS ngày 03 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vƣợng (Tên công ty viết tắt VPBFC).

Trụ sở chính:, phường 12, Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của công ty: Ông Lô Bằng G, sinh năm: 1972. Chức danh: Chủ tịch hội đồng thành viên. (Vắng mặt)

Ông Lô Bằng G ủy quyền cho: Bà Nguyễn Thị Thanh T – Chức vụ: Trưởng phòng Tố tụng – Phòng Thu Hồi Nợ Pháp Lý - Trung Tâm Thu Hồi Nợ (Theo văn bản ủy quyền số 136/UQ-VH.18 ngày 29/8/2018 của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBFC)). (Vắng mặt)

Bà Nguyễn Thị Thanh T ủy quyền lại cho ông Đào Đình M – Sinh năm: 1980. Địa chỉ: quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản ủy quyền số 12.DDM04/UQTA-VH.18 lập ngày 12/12/2018 của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBFC)). (Vắng mặt)

Bị đơn: Bà Đinh Thùy T, sinh năm: 1994. (Vắng mặt)

Địa chỉ: xã T huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 12 tháng 12 năm 2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng nhƣ tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn có ông Đào Đình M trình bày nhƣ sau:

Ngày 14/11/2014 bà Đinh Thùy T có ký đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 20160406-500000-2730 với Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng để vay số tiền 27.430.000 đồng (Hai mươi bảy triệu, bốn trăm ba mươi nghìn đồng) với lãi suất vay 3.75%/tháng, để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà T có trách nhiệm thanh toán số tiền 50.427.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng ; 35 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.401.000 đồng ; tháng cuối trả 1.392.000 đồng. Bắt đầu thực hiện từ ngày 07/05/2016. Bà T đã nhận đủ tiền và đã thanh toán cho Công ty 18.406.000 đồng. Kể từ ngày 07/06/2017 bà T không thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào, dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Nay Công ty yêu cầu bà Đinh Thùy T trả cho Công ty toàn bộ số tiền nợ 32.021.000 đồng (Ba mươi hai triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn đồng) (bao gồm: Nợ gốc còn lại theo hợp đồng 21.335.133 đồng và nợ lãi còn lại theo hợp đồng 10.685.867 đồng), trả ngay khi bản án, quyết định của Tòa có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa ông Đào Đình M là đại diện theo ủy quyền lại của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBFC) vắng mặt và có nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.

Bị đơn - bà Đinh Thùy T đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh tống đạt tại địa chỉ số xã T huyện C, thành phố Hồ Chí Minh gồm các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án ; Giấy triệu tập đương sự ; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà Đinh Thùy T vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các phiên tòa xét xử mà không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình cũng như nộp các tài liệu chứng cứ khác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa bà Đinh Thùy T vắng mặt không lý do.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh nhƣ sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, xác minh thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Qua tài liệu chứng cứ mà đương sự cung cấp cho Tòa án và các chứng cứ Tòa án thu thập thì có cơ sở xác định bà Đinh Thùy T có ký hợp đồng vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng với Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng. Tại phiên tòa bị đơn - bà Đinh Thùy T vắng mặt không lý do, coi như trốn tránh nghĩa vụ trả tiền vay đối với người khởi kiện. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền 32.021.000 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bị đơn chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung:

Về quan hệ tranh chấp vụ án: Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBFC) khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bà Đinh Thùy T tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo kết quả xác minh của Công an xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh: “Đương sự bà Đinh Thùy T, sinh năm: 1994 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã T huyện C, thành phố Hồ Chí Minh. Hiện còn cư trú tại địa phương” nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn - ông Đào Đình M vắng mặt tại phiên tòa và có nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Bị đơn – bà Đinh Thùy T vắng mặt tại phiên tòa xét xử đến lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định là Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

Về áp dụng pháp luật: Do hợp đồng dân sự của các bên đương sự thực hiện vào thời điểm Bộ Luật dân sự năm 2005 có hiệu lực nên Tòa án áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết vụ án.

Về các yêu cầu của các đương sự:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bà Đinh Thùy T trả một lần toàn bộ số tiền 32.021.000 đồng (Ba mươi hai triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn đồng), trả ngay khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa bà Đinh Thùy T vắng mặt, bà T không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình cũng như nộp các tài liệu chứng cứ khác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả ngay một lần số tiền vay 32.021.000 đồng. Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng của bị đơn - bà Đinh Thùy T ký hợp đồng vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 20160406-50000-2730 với nguyên đơn - Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBFC), để vay số tiền 27.430.000 đồng (gồm có 1.430.000 đồng phí bảo hiểm 5.5% giá trị khoản vay), lãi suất cho vay 3,75%/tháng, phương thức trả chậm trong thời hạn 36 tháng (trả hàng tháng, bắt đầu từ ngày 07/05/2016). Bị đơn đã nhận đủ tiền và đã trả được 18.406.000 đồng thì ngưng trả kể từ ngày 07/06/2017. Sau đó bị đơn không liên hệ nguyên đơn để thương lượng thỏa thuận giải quyết số nợ còn thiếu, kéo dài thời gian thanh toán nợ. Căn cứ Điều 471, Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm trả số tiền 32.021.000 đồng (bao gồm nợ gốc 21.335.133 đồng và nợ lãi 10.685.867 đồng), trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả số tiền tạm ứng án dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 4, Điều 471 và Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBFC) yêu cầu bà Đinh Thùy T trả số tiền 32.021.000 đồng (bao gồm nợ gốc 21.335.133 đồng và nợ lãi 10.685.867 đồng), trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Buộc bà Đinh Thùy T trả cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBFC) số tiền 32.021.000 đồng (Ba mươi hai triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn đồng) (bao gồm nợ gốc 21.335.133 đồng và nợ lãi 10.685.867 đồng), trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Các đương sự thực hiện việc giao nhận tiền tại Chi cục thi hành án có thẩm quyền.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Đinh Thùy T còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Về án phí:

Bà Đinh Thùy T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.601.050 đồng (Một triệu, sáu trăm lẻ một nghìn, không trăm năm mươi đồng).

Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBFC) 800.525 đồng (Tám trăm nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0006650 ngày 03/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.

Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ