- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Đ bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? *Căn cứ: khoản 01 Điều 173; điểm g khoản 01 Điều 52; điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2019/HSST Ngày: 27/6/2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Khắc Tuấn.
2. Bà Lưu Thị Thôi.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thái Hà, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Quang, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2019/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2019/QĐXXST – HS ngày 11/6/2019 đối với bị cáo:
Trịnh Tấn Đ - Sinh năm: 1996, tại Bình Thuận; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Kp6, phường HL, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: lao động biển; Con ông: Trịnh Văn T, sinh năm: 1971 ( đã chết ); Con bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1972; Vợ: Phan Kim T2, sinh năm: 1997 (không đăng ký kết hôn), trú tại: Kp6, phường HL, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; Con: Trịnh Tấn V, sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/3/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an Tp. Phan Thiết.“Có mặt”.
*/Người bị hại:
1/Bà Ngô Thị L, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Địa chỉ: Kp6, phường HL, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
2/Ông Đinh Quang H, sinh năm 1965 (có mặt).
Địa chỉ: KP3, phường PT, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
3/Bà Tạ Thúc M, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: thôn XH, xã PN, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
4/Ông Nguyễn Duy Hoàng P, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ: KP.D, phường TH, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 20/8/2018 đến ngày 11/11/2018, Trịnh Tấn Đ đã một mình thực hiện liên tiếp 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn TP.Phan Thiết, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 20/8/2018, Trịnh Tấn Đ chạy xe mô tô (không rõ biển số) từ nhà Đ ra khu dân cư Hùng Vương thuộc phường Phú Thuỷ, TP. Phan Thiết để chơi bắn cá. Khi Đ đi ngang qua nhà chị Ngô Thị L (sinh năm: 1972, trú tại Kp6, phường HL, thành phố Phan Thiết) thì phát hiện nhà chị L cửa cổng mở, cửa chính khép hờ nên Đ nảy sinh ý định đột nhập vào nhà để trộm cắp tài sản. Đ điều khiển xe mô tô quay về dựng ở đường hẻm gần nhà Đ, sau đó, Đ đi bộ đến nhà chị L. Khi tới nơi Đ mở cửa cổng nhà chị L rồi lẻn vào trong nhà thì thấy chị L đang nằm ngủ ở dưới tầng trệt. Đ quan sát xung quanh nhà nhưng không thấy tài sản gì nên Đ đi lên gác, khi lên đến gác Đ thấy con chị L là Phạm Thành N (sinh năm: 1994) đang nằm ngủ, bên cạnh N có để chiếc điện thoại di động hiệu HTC One Me nên Đ lấy chiếc điện thoại này cất vào túi quần rồi đi xuống lại cầu thang để tìm tài sản khác. Khi Đ xuống tới nhà bếp thì phát hiện chiếc điện thoại đi động hiệu Samsung Galaxy J3 đang cắm sạc để trên kệ bếp, Đ liền lấy chiếc điện thoại này tiếp tục cất vào túi quần. Sau đó, Đ đi ra cổng để tẩu thoát thì gặp con gái chị L là Phạm Thanh N1 (sinh năm: 2002) đang đứng trước cổng nhà nói chuyện với bạn nên Đ leo qua vách tường rồi nhảy ra đường bỏ chạy. Sau khi bỏ chạy thì Đ đi tới nhà bà N2 (không rõ họ tên) cách nhà Đ khoảng 50 mét cất 02 chiếc điện thoại đi động vừa trộm được lên vách tấm đan cửa sổ nhà bà N2 rồi đi về nơi dựng xe mô tô lúc trước chạy đến tiệm bắn cá Hoàng Kim Long trên đường Võ Văn Kiệt để chơi. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phan Thiết mời Đ về làm việc. Tại Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phan Thiết thì Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp lại 02 chiếc điện thoại di động vừa trộm được cho Cơ quan Công an.
Vật chứng của vụ án:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J3, màn hình cảm ứng, màu đen, IMEI: 358869080656495.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu HTC, màn hình cảm ứng, vỏ ngoài màu đồng, IMEI: 358721062126940.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 165, ngày 07/9/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Phan Thiết, kết luận giá trị của số tài sản như sau: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J3 – Số hiệu IMEI: 35886908065649 trị giá 3.600.000đồng, 01 điện thoại di động hiệu HTC – Số IMEI: 358721062126940 trị giá 4.200.000đồng. Tổng giá trị tài sản là 7.800.000 đồng.
Về dân sự: Bị hại Ngô Thị L sau khi nhận lại tài sản thì không có yêu cầu gì thêm.
Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 20/10/2018, Trịnh Tấn Đ đi từ nhà ra nhà thi đấu tỉnh Bình Thuận thuộc khu phố 1, phường Hưng Long, thành phố Phan Thiết để xem ai sơ hở tài sản thì trộm cắp. Khi Đ đi ngang qua nhà để xe nằm bên phía đường Tôn Đức Thắng thì phát hiện chiếc xe mô tô biển số 86C1- 376.89 của anh Đinh Quang H (sinh năm: 1965, trú tại KP3, phường PT, thành phố Phan Thiết) đang dựng ở nhà xe không khóa cốp xe nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Quan sát không có ai, Đ dùng tay mở cốp xe lên thì phát hiện bên trong cốp xe có 01 cái ví da nên Đ mở ví da ra kiểm tra thì phát hiện bên trong có 3.000.000đồng (06 tờ tiền mệnh giá 500.000đồng). Đ lấy số tiền trên để ví da lại trong cốp xe rồi tẩu thoát, số tiền trộm cắp được Đ đã tiêu xài hết.
Về dân sự: anh Đinh Quang H yêu cầu Trịnh Tấn Đ bồi thường lại số tiền là 3.000.000đồng.
Vụ thứ ba: Khoảng 18 giờ ngày 11/11/2018, thời điểm này Trịnh Tấn Đ thuê trọ tại thôn XH, xã PN, thành phố Phan Thiết thì có thấy chị Tạ Thúc M (sinh năm: 1991, trú tại thôn XH, xã PN, thành phố Phan Thiết) khép cửa cổng đi công việc nhưng lại không khóa cửa nên Đ nảy sinh ý định vào nhà chị M để trộm cắp tài sản. Đ đi bộ từ phòng trọ của Đ qua nhà chị M mở cửa cổng đi vào trong nhà thì thấy có 01 chiếc điện thoại LG mã số A351776070608450 đang để trên đầu tủ lạnh nên Đ lấy cất vào túi quần sau đó đi ra ngoài để tẩu thoát. Lúc này chị M và chồng chị là Nguyễn Văn Pháp (sinh năm: 1980) vừa về tới nhà thì phát hiện Đ từ trong nhà đi ra nên la lên “Ăn trộm” nên Đ tung cửa cổng bỏ chạy ra đường thì anh Pháp đuổi theo. Đ chạy được khoảng 300 mét thì nhảy xuống ao nước núp ở bụi cỏ, khoảng 30 phút sau thì Đ bị anh Pháp và quần chúng nhân dân bắt giữ giao nộp cho Công an xã Phong Nẫm cùng chiếc điện thoại mà Đ vừa lấy trộm được.
Vật chứng của vụ án:
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu LG có mã số A351776070608450.
- Tại bản kết luận định giá tài sản số 23, ngày 15/02/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP. Phan Thiết, kết luận giá trị của tài sản: 01 chiếc điện thoại di động hiệu LG có mã số: A351776070608450 trị giá 4.194.000đồng.
Về dân sự: Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an TP.Phan Thiết đã xử lý vật chứng: trả lại tài sản cho người bị hại. Tuy nhiên do điện thoại đã bị hư hỏng do quá trình Đ nhảy xuống ao trốn bị ngập nước nên chị M yêu cầu Đ bồi thường số tiền là 4.194.000đồng.
Qúa trình điều tra Trịnh Tấn Đ còn khai nhận ngày 11/11/2018 đã đột nhập vào nhà anh Nguyễn Duy Hoàng P (sinh năm: 1982, trú tại KP.D, phường TH, thành phố Phan Thiết lấy trộm số tiền là 300.000đồng rồi tiêu xài hết. Anh Phong không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 82/CT – VKS ngày 29 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố Trịnh Tấn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 01 Điều 173; điểm g khoản 01 Điều 52; điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đ mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Bồi thường dân sự:
Bị hại Ngô Thị L đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự.
Buộc bị cáo bồi thường cho ông Đinh Quang H số tiền 3.000.000đồng, bà Tạ Thúc M số tiền 4.194.000đồng.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: mong hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về đoàn tụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có tại hồ sơ đủ cơ sở để kết luận: Từ ngày 20/8/2018 đến ngày 11/11/2018, Trịnh Tấn Đ đã thực hiện liên tiếp 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Phan Thiết.
Vụ thứ nhất: Ngày 20/8/2018, Trịnh Tấn Đ đã trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Samsung J3 – Số hiệu IMEI: 35886908065649, 01 điện thoại di động hiệu HTC – Số IMEI: 358721062126940 của bà Ngô Thị L tại Kp6, phường HL, thành phố Phan Thiết với tổng giá trị tài sản là 7.800.000đồng.
Vụ thứ hai: Ngày 20/10/2018, Trịnh Tấn Đ đã trộm cắp 3.000.000đồng của ông Đinh Quang H tại nhà thi đấu tỉnh Bình Thuận.
Vụ thứ ba: Ngày 11/11/2018 Trịnh Tấn Đ đã trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu LG mã số A351776070608450 của bà Tạ Thúc M tại thôn XH, xã PN, thành phố Phan Thiết với giá trị tài sản là 4.194.000đồng.
Tổng giá trị tài sản Đ chiếm đoạt của các bị hại là 15.294.000đồng.
Như vậy, hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Bản cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 29 tháng 5 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Trịnh Tấn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy, bị cáo ý thức được quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, thế nhưng vì muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài mà không phải lao động cực nhọc nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản của người khác, thỏa mãn nhu cầu vật chất cá nhân, bất chấp pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo 03 lần lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, mỗi lần giá trị tài sản chiếm đoạt đều trên 2.000.000 đồng nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 01 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có xem xét đến nhân thân của bị cáo và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xét thấy cần xử lý nghiêm đối với bị cáo, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về bồi thường dân sự:
Bị hại Ngô Thị L có đơn xin xử vắng mặt thể hiện đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với bị hại ông Đinh Quang H và bà Tạ Thúc M hiện nay chưa nhận lại tài sản, có yêu cầu bị cáo phải bồi thường tài sản bị mất và hư hỏng nên buộc bị cáo Đ có trách nhiệm bồi thường cho ông Đinh Quang H số tiền là 3.000.000 đồng, bà Tạ Thúc M số tiền 4.194.000 đồng là đúng theo quy định pháp luật.
[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 02 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
*Căn cứ: khoản 01 Điều 173; điểm g khoản 01 Điều 52; điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.
*Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Tấn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
*Xử phạt: Bị cáo Trịnh Tấn Đ 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 21/3/2019.
* Về bồi thường dân sự:
Áp dụng: điểm b khoản 01 Điều 46, Điều 48 Bộ Luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589, Điều 357, Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên buộc bị cáo Trịnh Tấn Đ có trách nhiệm bồi thường cho ông Đinh Quang H số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng), bà Tạ Thúc M số tiền 4.194.000đ (Bốn triệu một trăm chín mươi bốn ngàn đồng).
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 01 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 02 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
* Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trịnh Tấn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 360.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo bản án của bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/6/2019). Quyền kháng cáo của người bị hại vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.
| Nơi nhận - VKSND thành phố Phan Thiết; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - TAND tỉnh Bình Thuận; - Công an thành phố Phan Thiết; - Người tham gia tố tụng; - UBND địa phương nơi b/c thường trú; - Thi hành án thành phố Phan Thiết; - Lưu hồ sơ. | TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Thu Hà |