vanban.org

Bản án 65/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị A được ly hôn anh Đào Nhật B.

Về án phí: Chị Phạm Thị A phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn đã nộp ( Biên lai thu tiền số 0004364 ngày 19 tháng 7 năm 2019 ) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ái + Bắc ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị A được ly hôn anh Đào Nhật B.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƢƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2019/HNGĐ-ST
Ngày 29-10-2019
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƢƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lợi

Ông Đỗ Văn Thư

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Thành Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 259/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2019 về việc “ Tranh chấp Ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2019/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị A; địa chỉ: Tổ , phường N, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Đào Nhật B; địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình tố tụng nguyên đơn là chị Phạm Thị A trình bày:

Chị và anh Đào Nhật B kết hôn trên cơ sở hai bên đều tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã A, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng vào năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại thôn T, xã A, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống hai bên phát sinh mâu thuẫn và ngày càng nghiêm trọng. Nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có con chung dẫn đến xảy ra va chạm bất hòa căng thẳng, không có hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình giúp đỡ hòa giải nhưng hai bên không cải thiện được còn nghiêm trọng hơn. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị và anh B đã sống ly thân một năm nay, không còn quan tâm và trách nhiệm với nhau nữa. Do tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không thể khắc phục mâu thuẫn tiếp tục chung sống đoàn tụ, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào Nhật B.

Về con chung: Chị Phạm Thị A và anh Đào Nhật B không có con chung

Về tài sản chung: Chị Phạm Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Đào Nhật B: Anh Đào Nhật B đã được Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để anh Bắc đến Tòa án giải quyết việc chị Phạm Thị A xin ly hôn, con chung, tài sản chung nhưng anh B đều vắng mặt không có lý do, không có quan điểm trình bày gửi Tòa án.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã vi phạm các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự: Vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật Dân sự: Xử cho chị Phạm Thị A được ly hôn anh Đào Nhật B. Về con chung: Hai bên không có con chung. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Phạm Thị A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét việc vắng mặt của nguyên đơn chị Phạm Thị A và bị đơn anh Đào Nhật B: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành các trình tự giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án chị Á có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, Đối với anh Đào Nhật B, Toà án đã tiến hành tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Đào Nhật B theo quy định. Tuy nhiên anh B vắng mặt tại phiên tòa lần hai không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Phạm Thị A và anh Đào Nhật B.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào chứng cứ do đương sự cung cấp và các chứng cứ do Toà án thu thập đã có đủ cơ sở xác định lời khai của chị Phạm Thị A về thời gian kết hôn, quá trình chung sống giữa hai bên là đúng sự thật. Mâu thuẫn vợ chồng được thể hiện ở việc trong quá trình chung sống hai bên va chạm bất hòa, sống ly thân, không còn quan tâm và trách nhiệm đến nhau nữa. Nguyên nhân là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình, không có con chung. Mâu thuẫn đã được gia đình hòa giải giúp đỡ nhưng không khắc phục được. Quá trình giải quyết vụ án, chị Ái xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn đã nghiêm trọng không thể khắc phục đoàn tụ vợ chồng, chị không còn tình cảm với anh B và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B. Đối với anh B, Tòa án đã nhiều lần báo anh B đến trình bày quan điểm, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tìm cách khắc phục mâu thuẫn cho hai bên. Tuy nhiên, anh B đều vắng mặt không có lý do, không tham gia phiên hòa giải để hàn gắn đoàn tụ vợ chồng, tại phiên tòa tiếp tục vắng mặt.

Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị Phạm Thị A và anh Đào Nhật B đã kéo dài và trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn, do đó yêu cầu xin ly hôn của chị Á đối với anh B là có cơ sở, cần được chấp nhận để giải phóng cho hai bên khỏi sự ràng buộc bởi quan hệ hôn nhân. Căn cứ vào các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho chị Phạm Thị A được ly hôn anh Đào Nhật B.

Về con chung: Chị Phạm Thị A và anh Đào Nhật B không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Phạm Thị A không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Anh Đào Nhật B không có quan điểm trình bày về tài sản chung. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, sau này hai bên có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

[5] Về án phí: Chị Phạm Thị A phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Về quyền kháng cáo của các đương sự: Chị Phạm Thị A và anh Đào Nhật B có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, các điều 70, 143, 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; căn cứ vào Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị A được ly hôn anh Đào Nhật B.

2. Về án phí: Chị Phạm Thị A phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn đã nộp ( Biên lai thu tiền số 0004364 ngày 19 tháng 7 năm 2019 ) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị A và anh Đào Nhật B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Cỡ chữ