- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị Quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2019/HNGĐ-ST Ngày: 12/11/2019 Về tranh chấp: "Ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH
TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đức Thuận
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Trực;
Ông Phạm Hùng Cường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh mở phiên tòa xét xử công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 34/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2019 về "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án xét xử số: 51/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Bà Trịnh Thu H – sinh năm 1995
HKTT: Nha Trang, Khánh Hòa.
Địa chỉ: phường Phương Sơn, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Bà H có mặt
2. Bị đơn: Ông Trần Duy B – sinh năm 1986
Địa chỉ: xã Diên Xuân, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Ông B vắng mặt lần thứ 2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Trịnh Thu H trình bày: Bà và ông Trần Duy B tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Diên Xuân, huyện Diên Khánh. Trong quá trình chung sống, sau khi chung sống khoảng 01 tháng vợ chồng bà thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn do ông B hay nhậu say, mỗi lần nhậu về là kiếm cớ gây sự, đánh đập, đe dọa bà. Bà đã nhiều lần khuyên can nhưng ông B vẫn không thay đổi. Từ năm 2014 đến nay bà và ông B không còn chung sống với nhau. Tuy nhiên, trong thời gian đó ông B không thay đổi mà còn đe dọa bà, chặn đường gây sự, đánh bà. Đến nay bà và ông B không còn tình cảm nên bà H kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Duy B.
Về con chung: Vợ chồng bà không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Bị đơn ông Trần Duy B đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Toà án tiến hành các thủ tục theo quy định pháp luật để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Ý kiến của Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn phát biểu việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký, các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét tại phiên Tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, xét thấy:
Về thủ tục: Ông Trần Duy B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần 2 không có lý do; căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông B.
Theo giấy chứng nhận kết hôn và lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử xác định bà Trịnh Thu H và ông Trần Duy B là vợ chồng. Nay bà H yêu cầu ly hôn với ông B là một yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét về nội dung yêu cầu khởi kiện thì thấy rằng: Bà Trịnh Thu Hu và ông Trần Duy B tự nguyện sống chung với nhau có đăng ký kết hôn nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn chỉ sau 01 tháng, do ông B thường xuyên nhậu về gây sự, đánh đập, đe dọa bà làm cho cuộc sống của bà bất an. Từ năm 2014 đến nay, bà và ông B không còn chung sống với nhau. Tuy nhiên, ông B vẫn không thay đổi, thường xuyên đe dọa, dùng vũ lực đối với bà H. Vì vậy, bà H yêu cầu được ly hôn với ông B. Bản thân ông B đang sinh sống tại địa phương, đã được Toà án triệu tập đến Toà nhiều lần để giải quyết nhưng vẫn vắng mặt, điều đó chứng tỏ ông B không còn quan tâm đến cuộc sống chung của vợ chồng nữa và từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông B đã thực sự trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.
Về con chung: Bà Trịnh Thu H xác định vợ chồng không có con chung nên không có yêu cầu gì.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không có.
Về án phí: Bà Trịnh Thu H phải nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Điều 147; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Nghị Quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Bà Trịnh Thu H được ly hôn ông Trần Duy B.
2. Về án phí: Bà Trịnh Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai số AA/2016/0002534 ngày 13/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên khánh. Bà H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bà Trịnh Thu H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Trần Duy B thời hạn nói trên được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện Diên Khánh; - Đương sự; - UBND xã Diên Xuân (nơi đăng ký kết hôn); - THADS huyện Diên Khánh; - Lưu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Đức Thuận |