vanban.org

Bản án 65/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 30/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S và Nguyễn Chí T phạm tội “Cướ p giậ t tài sản”.

Áp dụng: Điể m d k hoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 điều 51; điề u 56 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn S 04 (Bố n) năm 06 (Sáu) tháng tù. Tổ ng hợ p hì nh phạ t Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2018/HSST ngà y 30/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 27 (Hai mươ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S và Nguyễn Chí T phạm tội “Cướ p giậ t tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ NINH
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65 /2018/HSST
Ngày 30 tháng 11 năm 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Bình Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Hoàng Văn Đàm

2/ Ông Nguyễ n Văn Giao

- Thƣ ký phiên toà: Ông Lương Anh Tuấ n - Thư ký TAND huyện Phù Ninh

- Đại diện VKSND huyện Phù Ninh tham gia phiên toà: Bà Lê Khá nh Trang

- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 68/2018/HSST ngày 19 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Chí T - Sinh ngày 31 tháng 7 năm 1992, tại Phú Thọ; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu 2, xã M, huyện N, tỉnh P; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1964; Mẹ đẻ: Trịnh Thị L, sinh năm: 1966; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân : Bản án hình sư sơ thẩm số 118/2016/HSST ngà y 24/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì miễn trách nhiệ m hì nh sự cho bị cá o về tộ i “Tà ng trữ trá i phé p chấ t ma tú y” ; Bị bắt tạm giam từ ngày 26/7/2018, hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. Có mặt

2. Họ và tên: Nguyễn Văn S - Sinh ngày 05 tháng 1 năm 1990, tại P; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu 1, xã M1, huyện N, tỉnh P; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn L1, sinh năm: 1960; Mẹ đẻ: Mè Thị K, sinh năm: 1967; Vợ: Hoàng Thị Hoài T2, sinh năm 1997; Con: có 01 con, sinh năm 2014; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiề n sự (Ngày 05/02/2018 bị Công an huyện Phù Ninh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng các loại pháo nổ

); Nhân thân : Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2018/HSST ngà y 30/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 27 tháng tù về tộ i “Mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y”; Bị bắt tạm giam từ ngày 26/7/2018, hiện bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. Có mặt

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986: Nơi cư trú : Khu 5, xã Đ, huyện N, tỉnh P. Vắ ng mặ t

- Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Hoàng Ngọc T3, sinh năm 1986; Nơi cư trú : Khu 18, xã H1, thị xã P1, tỉnh P. Vắ ng mặt

2. Chị Hoàng Thị Hoài T3, sinh năm 1997; Nơi cư trú : Khu 1, xã M, huyện N, tỉnh P. Có mặ t

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Các bị cáo Nguyễn Chí T và Nguyễn Văn S bị Viện kiểm sát dân huyện Phù Ninh truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng hơn 12 giờ ngày 21/7/2018 Nguyễn Văn S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, biển số: 19P1 - 238.25 đến nhà Nguyễn Chí T tại khu 2, xã M, huyện N, tỉnh P chơi. Do S và T đều nghiện ma túy nên S hỏi T: “có tiền không, đi lấy hàng chơi” tức là đi mua ma túy về sử dụng. T trả lời: “không có, đi lượn đường ai có gì sơ hở thì lấy”, S đồng ý. S bảo T lấy cờ lê để tháo biển số xe mô tô và đeo khẩu trang để tránh bị phát hiện. T đi vào nhà lấy chiếc cờ lê rồi điều khiển xe mô tô của S, chở S đi ra hướng bờ đê sông Lô cách nhà khoảng 20 mét thì dừng lại. T đưa cờ lê cho S vặn lỏng các ốc ở biển số xe mô tô, còn T dùng tay vặn ốc và tháo chiếc biển số 19P1-238.25, cất vào trong cốp. Sau đó, T tiếp tục điều khiển xe mô tô trên chở S đi theo các tuyến đường trên địa bàn huyện N tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Khi đi đến đoạn đường tỉnh lộ 323C thuộc khu 6, xã A, huyện N, tỉnh P, S và T phát hiện chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986, nơi ĐKHKTT tại: khu 5, xã Đ, huyện N, tỉnh P đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM ANGEL màu xanh, biển số: 19K7 - 1329 chở theo hai con là cháu Nguyễn Thanh B, sinh năm 2011 và cháu Nguyễn Công V, sinh năm 2009 đi theo hướng xã Đ đi xã A. Thấy cháu B ngồi giữa trên tay có cầm một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37 rất sơ hở nên S nói với T: “kia có chiếc điện thoại, đi lên”. T điều khiển xe mô tô áp sát phía bên trái cách xe của chị H khoảng 40-50cm, S dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại cháu B đang cầm rồi T tăng tốc độ xe bỏ chạy theo hướng chợ xã A, huyện N. Trên đường đi, S tháo chiếc sim gắn trong chiếc điện thoại của chị H rồi vứt đi. Sau đó, T và S đi đến cửa hàng mua bán điện thoại di động của anh Hoàng Ngọc T3, sinh năm 1986, nơi ĐKHKTT: khu 18, xã H1, thị xã P1, tỉnh P, T đứng ngoài chờ, còn S vào bán điện thoại. S đưa điện thoại cho anh T3 rồi nói: “anh phá hộ em mật khẩu của máy này với, vợ em nó quên mật khẩu bây giờ không mở được”. Anh T3 nói: “mở khóa mật khẩu bây giờ là một trăm năm mươi nghìn đồng”. S nghĩ một lúc rồi nói: “thế anh mua điện thoại này được bao tiền?”. Anh T3 trả lời: “nếu anh bán thì em mua máy này với giá một triệu sáu trăm nghìn đồng”. S đồng ý bán chiếc điện thoại trên cho anh T3 với giá 1.600.000đ. S cầm tiền rồi đi ra nói với T là bán điện thoại được 1.000.000đ. Cả hai đi mua ma túy tại bến đò Vai thuộc khu 7, xã Q, huyện N, tỉnh P của một người đàn ông trung tuổi không rõ tên, địa chỉ ở đâu về sử dụng chung. Còn lại 600.000đ S cất riêng và tiêu cá nhân hết. Đến ngày 25/7/2018, chị H đã đến Công an xã A để trình báo sự việc chị bị cướp giật tài sản.

Sau khi tiếp nhận đơn trình báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Ninh đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, đồng thời triệu tập các đối tượng liên quan để làm việc, thu giữ vật chứng gồm: 01 chiếc hộp giấy đựng điện thoại; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37 màu vàng hồng; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, biển số: 19P1-238.25; 01 chiếc áo phông cộc tay cổ tròn màu đen; 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu xanh, cổ áo có ghi chữ “Ming Hange”; 01 chiếc kính râm màu đen; 01 chiếc quần dài bằng vải màu đen; 01 đôi dép lê bằng cao su màu đen đỏ; 01 Chiếc áo sơ mi dài tay màu xanh, trên cổ áo có gắn mác ghi chữ “BAI YI SHANG PIN”.

Ngày 26/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Ninh quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can, ra Lệnh bắt để tạm giam đối với Nguyễn Chí T và Nguyễn Văn S về hành vi Cướp giật tài sản.

Ngày 30/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Ninh đã ra Quyết định số 35 trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phù Ninh, định giá chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37. Ngày 08/8/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phù Ninh kết luận: chiếc điện thoại nêu trên có giá trị là 1.500.000đ.

Đối với 01 chiếc hộp giấy màu vàng nhạt, mặt trước có chữ OPPO, một phần mặt trước bị rách, mặt sau có in nội dung: “Tên hàng: Điện thoại DĐ A37 fw, màu sắc vàng hồng, IMEI 1: 866977032929111, IMEI 2: 866977032929103”; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37 màu vàng hồng, số IMEI 1: 866977032929111, số IMEI 2: 866977032929103, máy điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị H. Ngày 13/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Ninh đã Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị H.

Quá trình điều tra Nguyễn Chí T và Nguyễn Văn S đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như trên.

Đối với anh Hoàng Ngọc T3 là người đã mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37 nhưng không biết nguồn gốc do T và S phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.

Đối với nội dung T và S khai mua ma túy tại bến đò Vai thuộc xã Q, huyện N, tỉnh P của một người nam giới không rõ tên tuổi, địa chỉ về với mục đích sử dụng không phải để mua bán. Hiện cơ quan CSĐT - Công an huyện Phù Ninh không xác định được đối tượng đã bán ma túy cho T và S như nội dung khai báo trên nên không có căn cứ làm rõ và xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị H sau khi nhậ n lạ i tà i sả n bị cướ p giậ t không đề nghị được bồ i thườ ng gì khá c. Anh Hoàng Ngọc T3 đề nghị Nguyễn Văn S và Nguyễn Chí T phải bồi thường cho anh T3 1.600.000đ mà anh T3 đã trả cho S khi mua chiếc điện thoại trên từ S.

Vật chứng vụ á n gồ m: 01 chiếc xe mãy nhãn hiệu Honda Wave α, biển kiểm soát: 19P1-238.25; 01 chiếc áo phông cộc tay cổ tròn màu đen; 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu xanh, cổ áo có ghi chữ “Ming Hange”; 01 chiếc kính râm màu đen; 01 chiếc quần dài bằng vải màu đen; 01 đôi dép lê bằng cao su màu đen đỏ; 01 Chiếc áo sơ mi dài tay màu xanh, trên cổ áo có gắn mác ghi chữ “BAI YI SHANG PIN” được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh chờ xử lý.

Về điều kiện kinh tế của các bị cáo: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh hiệ n các bị cáo sống phụ thuộc vào gia đình, không có tà i sả n riêng có giá trị gì.

Tại bản cáo trạng số: 67/CT-VKSPN ngày 19 tháng 11 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh truy tố các bị cáo Nguyễn Chí T và Nguyễn Văn S về tội “Cướ p giậ t tài sản” theo quy đị nh tạ i điể m d khoản 2 điều 171 Bộ luậ t hì nh sự .

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Nguyễn Chí T và Nguyễn Văn S phạ m tội “Cướ p giậ t tài sản”

- Áp dụng điể m d khoản 2 điều 171, điểm s khoản 1 điều 51; điề u 56 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 04 năm đến 05 năm tù. Tổ ng hợ p hì nh phạ t Bả n á n hình sự sơ thẩm số 48/2018/HSST ngà y 30/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạ t 27 tháng tù về tộ i “Mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y ”, đượ c khấ u trừ 09 ngày tạm giữ , còn phải chấp hành là 26 tháng 21 ngày tù, buộ c S phả i chấ p hà nh hì nh phạ t chung của cả hai bản án là từ 06 năm 02 tháng 21 ngày tù đến 07 năm 02 tháng 21 ngày tù, thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y bắ t tạ m giam 26/7/2018;

- Áp dụng điể m d khoản 2 điều 171, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T từ 04 đến 05 năm tù, thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y bắ t tạ m giam 26/7/2018.

Không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung đố i vớ i các bị cáo

Về trá ch nhiệ m dân sự và xử lý vậ t chứ ng:

- Xác nhận chị Nguyễn Thị H đã được nhận lại 01 chiếc hộp giấy màu vàng nhạt, mặt trước có chữ OPPO, một phần mặt trước bị rách, mặt sau có in nội dung: “Tên hàng: Điện thoại DĐ A37 fw, màu sắc vàng hồng, IMEI 1: 866977032929111, IMEI 2: 866977032929103”; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A 37 màu vàng hồng, số IMEI 1: 866977032929111, số IMEI 2: 866977032929103, máy điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng và không đề nghị được bồ i thườ ng gì khá c.

- Buộ c Nguyễn Văn S và Nguyễn Chí T phải liên đớ i trả cho anh Hoàng Ngọc T3 số tiề n 1.600.000đ mà anh T3 đã trả cho S khi mua chiếc điện thoại trên từ S, vớ i kỷ phầ n S phải trả số tiền 1.100.000đ; T phả i trả số tiề n 500.000đ.

- Trả lại cho chị Hoàng Thị Hoài T 2 01 chiếc xe má y nhãn hiệu Honda Wave α, biển kiểm soát: 19P1-238.25;

- Trả lại cho bị cáo T 01 chiếc áo phông cộc tay cổ tròn màu đen, 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu xanh, cổ áo có ghi chữ “Ming Hange”, 01 chiếc kính râm màu đen; Trả lại cho bị cáo S 01 chiếc quần dài bằng vải màu đen; 01 đôi dép lê bằng cao su màu đen đỏ; 01 Chiếc áo sơ mi dài tay màu xanh, trên cổ áo có gắn mác ghi chữ “BAI YI SHANG PIN”.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Tại phiên toà Nguyễn Văn S và Nguyễn Chí T đã khai nhận hành vi thực hiện như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/7/2018 Nguyễn Chí T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, biển số: 19P1 - 238.25 chở Nguyễn Văn S đi đến đoạn đường tỉnh lộ 323C thuộc khu 6, xã A, huyện N, tỉnh P đã có hành vi cướp giật 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37 màu vàng hồng, trị giá 1.500.000đ của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986; Nơi cư trú : Khu 5, xã Đ, huyện N, tỉnh P.

Xét lời nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng vụ án và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ. Các bị cáo đã dùng thủ đoạn nguy hiểm là điều khiển xe môtô chạy với tốc độ cao để thực hiện hành vi cướp giật tài sản, do vậy các bị cáo phải chịu 01 tình tiết định khung hình phạt là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy đị nh tạ i điể m d khoả n 2 điề u 171 Bộ luậ t hì nh sự . Vì vậy có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Nguyễn Văn S và Nguyễn Chí T phạm tội “Cướ p giậ t tài sản” theo điể m d khoả n 2 điề u 171 Bộ luật hình sự như kết luận và viện dẫn của Kiểm sát viên tại phiên toà là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự quy định:

‘‘1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) …

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

…’’

Vụ án thuộc loại tội phạm rấ t nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý thậ t nghiêm trước pháp luật để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau: Đây là vụ á n có tí nh chấ t đồ ng phạ m giả n đơn , các bị cáo có cùng chung mục đích vụ lợi . Trong đó bị cá o S là ngườ i đã trự c tiế p thự c hiệ n hà nh vi cướ p giậ t tà i sả n . Các bị cá o không có tiề n á n ; bị cáo S có 01 tiề n sự ; các bị cáo không phả i chị u tì nh tiế t tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự nào. Tại cơ quan điều tra cũ ng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cầ n xem xé t giả m nhẹ mộ t phầ n hình phạt đối với các bị cáo, song xét thấy cần thiết phải phạt tù giam các bị cáo mớ i đủ răn đe, giáo dục đối với các bị cáo. Đối với bị cáo S còn phải bị tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2018/HSST ngà y 30/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt bổ sung: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh hiệ n cá c bị cá o

số ng phụ thuộ c và o gia đì nh , không có tà i sả n riêng có giá trị gì nên không á p dụ ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Cầ n xá c nhậ n chị Nguyễn Thị H đã đượ c nhậ n lạ i 01 chiếc hộp giấy màu vàng nhạt, mặt trước có chữ OPPO, một phần mặt trước bị rách, mặt sau có in nội dung: “Tên hàng: Điện thoại DĐ A37 fw, màu sắc vàng hồng, IMEI 1: 866977032929111, IMEI 2: 866977032929103”; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37 màu vàng hồng, số IMEI 1: 866977032929111, số IMEI 2: 866977032929103, máy điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng và không đề nghị được bồ i thườ ng gì khá c.

- Cầ n b uộ c Nguyễn Văn S và Nguyễn Chí T phải liên đớ i trả cho anh Hoàng Ngọc T3 số tiề n 1.600.000đ mà anh T3 đã trả cho S khi mua chiếc điện thoại trên từ S, vớ i kỷ phầ n S phả i trả số tiề n 1.100.000đ; T phả i trả số tiề n 500.000đ;

- Đối với 01 chiếc xe má y nhãn hiệu Honda Wave α, biển kiểm soát: 19P1-238.25, quá trình điều tra đã xác định mặc dù đăng ký đứng tên bị cáo S , nhưng là tà i sản chung của bị cáo và vợ là chị H oàng Thị Hoài T 2 mua trả gó p , hiệ n vẫ n chưa trả góp xong. Khi bị cá o S sử dụ ng chiế c xe để đi cướ p giậ t tà i sả n chị T 2 không biế t. Vì vậ y, cầ n xem xé t trả lạ i chiế c xe má y cho chị T2;

- Đối với 01 chiếc áo phông cộc tay cổ tròn màu đen; 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu xanh, cổ áo có ghi chữ “Ming Hange”; 01 chiếc kính râm màu đen thu giữ củ a bị cáo Thanh và 01 chiếc quần dài bằng vải màu đen; 01 đôi dép lê bằng cao su màu đen đỏ; 01 Chiếc áo sơ mi dài tay màu xanh, trên cổ áo có gắn mác ghi chữ “BAI YI SHANG PIN” thu giữ củ a bị cá o S không liên quan đế n tộ i phạ m , cầ n trả lạ i cho cá c bị cáo.

Về án phí: Cần buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S và Nguyễn Chí T phạm tội “Cướ p giậ t tài sản”.

- Áp dụng: Điể m d k hoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 điều 51; điề u 56 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn S 04 (Bố n) năm 06 (Sáu) tháng tù. Tổ ng hợ p hì nh phạ t Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2018/HSST ngà y 30/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 27 (Hai mươi bả y) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” , đượ c khấ u trừ 09 (Chín) ngày tạm giữ (Từ ngà y 14/5/2018 đến 22/5/2018). Buộ c Nguyễ n Văn S phả i chấ p hà nh hì nh phạ t chung của cả hai bản án là 06 (Sáu) năm 08 (Tám) tháng 21 (Hai mươi mố t ) ngày tù. Thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y bắ t tạ m giam 26/7/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn S.

- Áp dụng: Điể m d khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Chí T 04 (Bố n) năm tù, thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y bắ t tạ m giam 26/7/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Chí T.

2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47, điề u 48 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; ®iÒu 357 Bé luËt d©n sù.

- Xác nhận chị Nguyễn Thị H đã được nhận lại 01 chiếc hộp giấy màu vàng nhạt, mặt trước có chữ OPPO, một phần mặt trước bị rách, mặt sau có in nội dung: “Tên hàng: Điện thoại DĐ A37 fw, màu sắc vàng hồng, IMEI 1: 866977032929111, IMEI 2: 866977032929103”; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37 màu vàng hồng, số IMEI 1: 866977032929111, số IMEI 2: 866977032929103, máy điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng và không đề nghị được bồ i thườ ng gì khác;

- Buộ c Nguyễn Văn S và Nguyễn Chí T phải liên đớ i bồi thường cho anh Hoàng Ngọc T3 số tiề n 1.600.000đ (Mộ t triệ u sá u trăm nghì n đồ ng ) mà anh T3 đã trả cho S khi mua chiếc điện thoại trên từ S, vớ i kỷ phầ n S phả i trả số tiề n 1.100.000đ (Mộ t triệ u mộ t trăm nghì n đồ ng) và T phải trả số tiền 500.000đ (Năm trăm nghì n đồ ng);

KÓ tõ ngµy b¶n ¸n cã hiÖu lùc ph¸p luËt cho ®Õn khi thi hµnh xong tÊt c¶ c¸c kho¶n tiÒn th× hµng th¸ng bªn ph¶i thi hµnh ¸n cßn ph¶i chÞu kho¶n tiÒn l·i cña sè tiÒn cßn ph¶i thi hµnh ¸n theo møc l·i suÊt b»ng 50% møc l·i suÊt giíi h¹n quy ®Þnh t¹i kho¶n 1 ®iÒu 468 Bé luËt d©n sù n¨m 2015 t ¬ng øng víi thêi gian chËm thi hµnh ¸n.

- Trả lại cho chị Hoàng Thị Hoài T 2 01 chiếc xe mãy nhãn hiệu Honda Wave α, biển kiểm soát: 19P1-238.25;

- Trả lại cho bị cáo T 01 chiếc áo phông cộc tay cổ tròn màu đen; 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu xanh, cổ áo có ghi chữ “Ming Hange”; 01 chiếc kính râm màu đen và trả lại cho bị cáo S 01 chiếc quần dài bằng vải màu đen; 01 đôi dép lê bằng cao su màu đen đỏ; 01 Chiếc áo sơ mi dài tay màu xanh, trên cổ áo có gắn mác ghi chữ “BAI YI SHANG PIN”.

(Theo biên bả n giao, nhậ n vậ t chứ ng ngà y 23/11/2018 lưu hồ sơ)

3. Án phí: Áp dụng các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điề u 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghì n đồng ) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghì n đồ ng) án phí dân sự trong vụ án hình sự , tổ ng cộ ng là 500.000đ (Năm trăm nghì n đồ ng ); bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghì n đồng ) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghì n đồ ng) án phí dân sự trong vụ án hình sự , tổ ng cộ ng là 500.000đ (Năm trăm nghì n đồ ng).

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan có mặ t tạ i phiên tò a có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắ ng mặ t tạ i phiên tò a c ó quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bả n á n đượ c giao hoặ c niêm yế t để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./. Nơinhận:

Cỡ chữ