vanban.org

Bản án 65/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 27/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Vi Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Vi Văn H 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 18 tháng 9 năm 2018. Về xử lý vật chứng: Trả cho anh Lương Trung H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu sony Xperia M4, vỡ màn hình, máy cũ đã qua sử dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vi Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Vi Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2018/HS-ST
Ngày 27-11-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hồng

Bà Triệu Thanh Thủy

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhưỡng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Vi Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2018 tại Nhà văn hóa khu B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2018/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2018/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Vi Văn H, sinh ngày 14/6/1990 tại huyện N, tỉnh Bắc Giang. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Giang; trình độ văn hóa 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn C và bà Mỳ Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không có án tích, không bị xử phạt hành chính, không bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 18/9/2018, chuyển tạm giam ngày 21/9/2018 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đến nay, có mặt.

- Bị hại:

1. Chị Tàng Thị C, sinh năm 1981, nghề nghiệp: Làm ruộng; nơi cư trú: Khu X, thị trấn N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1971, nghề nghiệp: Làm ruộng; nơi cư trú: Thôn K, xã L, huyện N, tỉnh Bắc Giang, có mặt.

3. Anh Lương Trung H, sinh năm 1989, nơi cư trú: Khu C, thị trấn N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hoàng Văn V, sinh năm 1971, nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Vi Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 11giờ 50 phút, ngày 17/9/2018 tại khu Phố X, thị trấn N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn Vi Văn H có hành vi trộm cắp một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave S, biển kiểm soát 12L1- 067.18 của chị Tàng Thị C, sau khi trộm cắp được Vi Văn H đã điều khiển xe đến bán ông Hoàng Văn V với giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Ngày 18/9/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tiến hành bắn giữ người trong trường hợp khấn cấp đối với Vi Văn H. Tại cơ quan điều tra Vi Văn H khai nhận trước đó đã thực hiện 02 (hai) vụ trộm cắp khác như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/9/2018 tại khu B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lạng Sơn Vi Văn H có hành vi trộm cắp của anh của Lương Trung H một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia M4.

Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 08/9/2018 tại khu M, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bắc Giang Vi Văn H quan sát thấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98L1- 023.76, nhãn hiệu YAMAHA của anh Nguyễn Văn D không thấy có ai trông giữ xe, chìa khóa cắm ở ổ điện, Vi Văn H đã thực hiện hành vi lấy trộm và điều khiển xe mô tô về nhà cất dấu, đến ngày 10/9/2018 Vi Văn H điều khiển xe mô tô đến nhà bán cho ông Hoàng Văn V với giá là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 26/KL-HĐĐGTS, ngày 20/9/2018 của Hội đồng định gia tài sản tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Lạng Sơn kết luận tài sản bị thiệt hại 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HODAWave S, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 12L1- 067.18 có giá trị 11.400.000 đồng (mười một triệu bốn trăm nghìn đồng)

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 29/KL-HĐĐGTS, ngày 17/10/2018 của Hội đồng định gia tài sản tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Lạng Sơn kết luận tài sản bị thiệt hại 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu sony Xperia M4, màn hình bị vỡ, máy cũ đã qua sử dụng có giá trị: 550.000 đồng (năm trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 157/KL-HĐĐGTS, ngày 01/10/2018 của Hội đồng định gia tài sản tố tụng hình sự huyện N, tỉnh Bắc Giang kết luận tài sản bị thiệt hại 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, biển kiểm soát 98L1- 023.76, màu đen - trắng có giá trị 9.500.000 đồng (triệu năm trăm nghìn đồng).

Bản cáo trạng số: 69/CT-VKSLB, ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Vi Văn H về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vi Văn H về tội Trộm cắp tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vi Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Vi Văn H từ 20 tháng đến 26 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có việc làm, không có thu nhập; về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hoàng Văn V không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét; đề nghị truy thu số tiền 5.500.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có.

Tại phiên toà bị cáo Vi Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Cụ thể: Khoảng 11 giờ 50 phút, ngày 17/9/2018 Vi Văn H có hành vi trộm cắp một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát 12L1- 067.18 của chị Tàng Thị C có giá trị 11.400.000 đồng (mười một triệu bốn trăm nghìn đồng); khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/9/2018 Vi Văn H trộm cắp của anh của Lương Trung H một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu sony Xperia M4, có trị giá 550.000 đồng (năm trăm năm mươi nghìn đồng); khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 08/9/2018 Vi Văn H có hành vi trộm cắp một chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98L1- 023.76, nhãn hiệu YAMAHA của anh Nguyễn Văn D, có giá trị 9.500.000 đồng (triệu năm trăm nghìn đồng). Hai xe mô tô trộm cắp được bị cáo đem bán cho ông Hoàng Văn V, đối với chiếc điện thoại bị cáo đem bán nhưng chưa bán được, số tiền bán xe mô tô Vi Văn H đã chi tiêu hết cho bản nhân.

Bị hại chị Tàng Thị C tại cơ quan điều tra khai nhận: Khoảng 11giờ 50 phút, ngày 17/9/2018 chị dựng trước cửa nhà một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát 12L1- 067.18, chìa khóa cắm ổ khóa, Vi Văn H có hành vi trộm cắp xe mô tô của chị, ngày 26/10/2018 Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã trả lại chiếc xe mô tô cho chị, chị không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Bị hại anh Lương Trung H tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa cho biết: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/9/2018 anh đang nằm ngủ trên ghế và để chiếc điện thoại di động nhãn hiệu sony Xperia M4 dưới ngăn bàn uống nước phòng khách, Vi Văn H đã lấy trộm chiếc điện thoại. Nay anh yêu cầu trả điện thoại, anh không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại anh Nguyễn Văn D tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa trình bày: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 08/9/2018 anh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, biển kiểm soát: 98L1- 023.76 đến hiệu sửa xe nhà anh Long H, Thị trấn C, huyện N, tỉnh Bắc Giang, khi đến do anh Long H không có nhà, anh dựng chiếc xe mô tô trước cửa hàng sửa xe của anh Long H và đi sang đường vào cửa hàng sửa điện thoại, sau 15 phút quay ra anh đã bị kẻ gian lấy trộm, ngày 01/11/2018 Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã trả lại chiếc xe mô tô cho anh, anh không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hoàng Văn V trình bày: Khoàng 13 giờ 30 phút ngày 17/9/2018, Vi Văn H điều khiển một chiếc xe mô tô đến nhà bán cho ông chiếc xe mô tô giá: 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng), trước đó khoảng 07 ngày, ông không nhớ rõ ngày tháng cụ thể, Vi Văn H đã điều khiển một chiếc xe mô đến bán cho ông, thỏa thuận với giá 3.000.000, khi mua hai chiếc xe mô tô ông cũng không biết rõ nguồn gốc hai chiếc xe này và chủ sở hữu là của ai. Ông nhận thức hành vi mua bán tài sản không rõ nguồn gốc là vi phạm pháp luật. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, không có khả năng bồi thường cho ông, do vây ông không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.500.000 đồng.

Lời nói sau cùng của bị cáo Vi Văn H: Bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt sớm về đoàn tụ với gia đình

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại chị Tàng Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án vẫn xét xử vắng mặt người này.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; do đó có căn cứ xác định: Trong hai ngày 08/9/2018 và ngày 17/9/2018 Vi Văn H đã có hành vi trộm cắp một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát 12L1.067.18, màu đỏ - đen của chị Tàng Thị C, trị giá 11.400.000 đồng (mười một triệu bốn trăm nghìn đồng); một chiếc xe mô tô biển kiểm soát 90L1- 023.76, nhãn hiệu YAMAHA loại xe SIRIUS màu đen - trắng của anh Nguyễn Văn D, giá trị 9.500.000 đồng (triệu năm trăm nghìn đồng); trộm cắp một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu sony Xperia M4 của anh của Lương Trung H, có trị giá 550.000 đồng (năm trăm năm mươi nghìn đồng), tổng trị giá tài sản bị cáo trộm cắp là: 21.400.000 đồng. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vi Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện thấy rằng: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về quyền tài sản của người khác, mà quyền này được pháp luật bảo vệ. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Hành vi mà bị cáo gây ra cần phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật.

Xét tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên toà cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong hai ngày 08/9/2018 và 17/9/2018 bị cáo đã thực hiện 03 lần hành vi trộm cắp tài sản, do đó bị cáo bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Từ những phân tích trên, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có thể giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.

Đối với Hoàng Văn V là người mua tài sản do bị cáo trộm cắp nhưng không biết về nguồn gốc 02 xe mô tô trên là do bị cáo phạm tội mà có, tuy nhiên việc mua bán xe không có giấy tờ của chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan Cảnh sát điểu tra đề nghị Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đề nghị xử lý đối với ông Hoàng Văn V theo nghị định số 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của chính phủ là có căn cứ.

Đối với số tiền 5.500.000 đồng ông Hoàng Văn V mua 02 xe mô tô với bị cáo Vi Văn H nhưng ông không biết tài sản do phạm tội mà có. Do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có điều kiện để bồi thường tiền cho ông, nên ông không yêu cầu bị cáo bồi thường cho ông số tiền 5.500.000 đồng. Xét thấy, việc từ bỏ quyền yêu cầu bị cáo bồi thường của ông Hoàng Văn V là sự tự nguyện, bị cáo nhất trí, việc từ bỏ này là phù hợp với quy định tại Điều 239 của Bộ luật Dân sự năm2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Số tiền 5.500.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có theo quy định phải truy thu nộp ngân sách Nhà nước, nhưng do bị cáo không có tài sản, không có điều kiện để thi hành nên Hội đồng xét xử không truy thu số tiền trên đối với bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại bà Tàng Thị C, ông Nguyễn Văn D, Lương Trung H không có yêu cầu bị cáo gì thêm nên không xem xét.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị này là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng", do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ (biên bản xác minh ngày 16/11/2018) và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu sony Xperia M4, vỡ màn hình, máy cũ đã qua sử dụng; 01 (một) sổ hộ khẩu gia đình phô tô số 370068 mang tên Vi Văn T, trú tại Phố X. Thị trấn N, Huyên B, tỉnh Lạng Sơn; 01 (một) cặp đen có dây đeo; 01 (một) chiếc ô màu đỏ có tổng chiều dài 92cm, phần cán ô màu vàng bằng gỗ có chiều dài 14cm, phần đầu ô có mũi bằng kim loại màu đen có chiều dài 8,5cm, bị móp, biến dạng, tình trạng chiếc ô cũ đã qua sử dụng. Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xét thấy: Đối với chiếc điện thoại di động thu giữ của anh Lương Trung H nên trả lại cho chủ sở hữu; đối với tài sản thu giữ không còn giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 chiếc xe mô tô do bị cáo trộm cắp, ngày 26/10/2018 và ngày 01/11/2018 Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn trả cho bà Tàng Thị C một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave S, biển kiểm soát 12L1- 067.18 và chìa khóa điện, trả cho ông Nguyễn Văn D xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, biển kiểm soát 98L1- 023.76 và chìa khóa điện trước khi vụ án được đưa ra xét xử, Hội đồng xét xử thấy phù hợp với quy định của pháp luật nên không xem xét.

Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Vi Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Vi Văn H 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 18 tháng 9 năm 2018.

3. Về xử lý vật chứng: Trả cho anh Lương Trung H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu sony Xperia M4, vỡ màn hình, máy cũ đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) sổ hộ khẩu gia đình phô tô số 370068 mang tên Vi Văn T, trú tại Phố X. Thị trấn N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; 01 (một) cặp đen có dây đeo; 01 (một) chiếc ô màu đỏ có tổng chiều dài 92cm, phần cán ô màu vàng bằng gỗ có chiều dài 14cm, phần đầu ô có mũi bằng kim loại màu đen có chiều dài 8,5cm, bị móp, biến dạng, tình trạng chiếc ô cũ đã qua sử dụng.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23 tháng 10 năm 2018).

4. Án phí: Bị cáo Vi Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ