- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T và Nguyễn Văn L phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Văn L, sửa bản án hình sự số 17/2018/HS-ST ngày 26/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 178 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2018/HS-PT Ngày: 16-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tuyển.
Các thẩm phán: Ông Lại Anh Vân và bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Công – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vững - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân (viết tắt là TAND) tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2018/HSPT ngày 22/5/2018. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 17/2018/HSST ngày 26/4/2017 của TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Văn T, sinh năm 1989.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã X, huyện G, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Lê Văn T1 và bà Vũ Thị N; Có vợ là Nguyễn Thị B và có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17/11/2006 bị Công an thành phố Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi “Đánh bạc”; Ngày 27/5/2014 bị Công an huyện Bình Giang xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”; Ngày 06/9/2014, bị chủ tịch UBND xã Bình Xuyên ra quyết định việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe người khác”. Bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.
2.Nguyễn Văn L, sinh năm 1991.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã X, huyện B, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị L1; Có vợ là Vũ Thị Y và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 28/8/2017 bị Công an huyện Bình Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 87 về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”; Nhân thân: Ngày 25/5/2013 bị Công an huyện Bình Giang xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”; Ngày 27/5/2014 bị Công an huyện Bình Giang xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”; Ngày 06/9/2014 bị chủ tịch UBND xã Bình Xuyên ra quyết định việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe người khác”; Ngày 05/8/2015, bị Công an huyện Bình Giang xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”. Bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.
- Bị cáo không kháng cáo: Nguyễn Văn S, sinh năm 1990; Trú tại: Thôn N, xã X, huyện B, tỉnh Hải Dương – Vắng mặt.
- Người bị hại:
1. Anh Trần Văn Q1, sinh năm 1988; Trú tại: thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương – Vắng mặt.
2. Ông Phạm Văn Q2, sinh năm 1954; Trú tại: thôn C, xã X, huyện B, tỉnh Hải Dương – Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1989; Trú tại: thôn K, xã X, huyện B, tỉnh Hải Dương – Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Phạm Văn Q3, sinh năm 1983; Trú tại: thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Hải Dương – Vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Văn A, sinh năm 1991; Trú tại: thôn N, xã X, huyện B, tỉnh Hải Dương – Vắng mặt.
3. Anh Nguyễn Viết C, sinh năm 1986; Trú tại: Thôn C, xã X, huyện B, tỉnh Hải Dương – Vắng mặt.
Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 14/12/2017, Lê Văn T, Nguyễn Văn L và Nguyễn Viết C đến hát tại quán Karaoke Golden ở thôn T, xã X của anh Trần Văn Q1. Trong lúc hát Karaoke, giữa T và chị Nông Thị T3 (nhân viên quán Karaoke), xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại. T3 và T đi xuống quầy lễ tân ở tầng 1 gặp nhân viên của quán là anh Lê Thanh T4 và anh T5. Lúc này giữa T với anh T4, anh T5 xô xát, thách thức đánh nhau. T gọi điện thoại bảo L, A, S đến quán Karaoke rồi ra ngoài đợi đồng bọn đến. Khi L, A, S đến, T đi vào trong quán yêu cầu chị T3 gọi anh T4, anh T5 nhưng chị T3 không đồng ý nên T giơ tay tát chị T3 một cái vào má trái và lấy biển nhựa ở bàn lễ tân ném về phía chị Đinh Thị N, sinh năm 1988 ở thôn T, xã X nhưng chị N tránh được. Thấy vậy, chồng chị N là anh Phạm Văn Q3 vào can ngăn thì bị T dùng tay tát vào mặt. Sau khi T, L và A đi khỏi quán hát, anh T3 gọi điện cho anh Trần Văn Q1 báo là có T đến quán quậy phá. Khoảng hơn 22 giờ cùng ngày, anh Q1 gọi điện cho T bảo T đến quán Golden để nói chuyện. T rủ thêm L và A đi vào quán Golden. Lúc này tại phòng khách tầng 1 quán Golden có T, L, A, anh Q1, T3, T4. Giữa anh Q1 và T lời qua, tiếng lại, xô xát, anh Q1 dùng tay đấm vào vùng mặt T làm T bị chảy máu ở vùng mặt. Sau đó có một nhóm thanh niên khoảng 10 người trong đó có một nam thanh niên đầu trọc, cắt tóc ngắn tên S quê ở huyện Thanh Miện đến quán dùng tay đấm T rồi bỏ đi.
T ra ngoài cửa quán gọi điện thoại cho Nguyễn Văn S nói nội dung “mày tập trung anh em đi, bọn quán Karaoke đánh tao chảy máu rồi”. Sau đó L và A từ trong quán Golden đi ra thì T nói “về tập trung anh em mang theo đồ, hôm nay phải chiến với bọn này”... “chúng mày đợi tao, để tao về nhà lấy dao” thì L nói “Tao cũng về lấy đồ”. L điều khiển xe máy hiệu Future, biển kiểm soát 34B1- 994.83 chở T và A đi về nhà. T về nhà lấy 01 con dao dài 46cm (phần lưỡi dao dài 30cm, bản dao chỗ rộng nhất 5,5cm, đầu nhọn, chuôi dao bằng gỗ) ở gian bếp và 01 đoạn tuýp sắt (dài khoảng 60cm, rỗng hình tròn, màu trắng, đường kính 2,5 x 3cm) ra đường trục xã đứng đợi. Khoảng 03 phút sau, A quay ra gặp T, sau đó L mang theo súng bắn hơi tự chế đi đến, cùng lúc đó Nguyễn Văn S cũng đi xe taxi đến, cùng đi với S có Lê Văn H, sinh năm 1995 nhà ở thôn N, xã X. T đưa cho S tuýp sắt, T cầm dao, L cầm súng bắn hơi tự chế, S cầm tuýp sắt chạy về phía quán Golden trước, còn A và H đi bộ theo sau. Khi đến quán Karaoke, T tay phải cầm dao chém mạnh vào cổng sắt làm rách phần lưới sắt dài 37cm, 2 mép vết rách sắc gọn, kích thước hở là 0,3cmn làm tuột chuôi dao, tiếp đến T cầm lưỡi dao phi cắm vào khung gỗ cửa quán Golden, còn S cầm tuýp sắt đập vào cổng sắt. Lúc đó từ trong nhà, anh Q1 dùng vỏ chai bia ném ra phía đường ngoài cổng, T và S quay ra nhặt đá ở đường ném vào phía cửa kính quán Golden. L đến hàng rào sắt phía trước cửa quán dùng súng bắn bi bằng hơi bắn vào cánh cửa kính khung gỗ bên trái quán Golden, rồi đưa nòng súng qua khe thoáng cổng sắt bắn liên tiếp 02 viên đạn bi sắt vào cánh cửa kính khung gỗ bên trái quán Golden làm phần kính rộng 1,2 mét, cao 2,55 mét bị rạn nứt toàn bộ, các vết rạn nứt bắt đầu từ 01 lỗ hủng hình tròn có đường kính 04mm. Tiếp theo, L dùng súng bắn 01 phát vào cửa sổ kính tầng 2 quán Golden làm phần kính rộng 36cm, dài 130cm bị thủng 01 lỗ đường kính 0,4cm, xung quanh lỗ thủng có các vết rạn nứt dài khoảng 03cm và bắn 01 phát vào ô kính phòng 501 tầng 5 nhà nghỉ Hương Cau liền kề với quán hát làm ô kính kích thước (75cm x 70cm) bị thủng 01 lỗ kích thước (0,4cm x 0,7cm), xung quanh lỗ thủng là các vết rạn nứt dài từ 3cm đến 4cm. Trong khoảng thời gian đó, T nhặt đá ném làm vỡ phần nhựa mê ca biển hiệu quán Karaoke Golden. Sáng ngày 15/12/2017 L cho khẩu súng vào bao dứa và đi xe máy đến nhà ông Lê Văn C, sinh năm 1972 ở thôn K, xã X để gửi khẩu súng.
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Giang kết luận: 01 cánh cửa gỗ kính kích thước 1,57m x 3m, riêng phần kính cường lực hiệu Việt – Nhật, kính trắng, dày 01cm kích thước 2,55m x 1,2m bị thủng rạn vỡ hoàn toàn, có trị giá là 3.036.000 đồng; 01 cánh cửa sổ gỗ kích thước 1,54, x 0,5m, riêng phần kính cường lực hiệu Việt – Nhật, kính trắng, dày 01cm kích thước 1,3m x 0,36m bị thủng một lỗ đường kính 0,4cm, xung quanh lỗ thủng có các vết rạn, nứt, có trị giá là 282.000 đồng; 01 ô vách kính khung nhôm, phần kính kích thước 75cm x 70cm, loại kính Việt – Nhật, xanh đen, dày 0,5cm bị thủng 01 lỗ kích thước (0,4 x 0,7) cm, xung quanh lỗ thủng các phần kính bị rạn nứt khoảng 03cm đến 04cm, có trị giá là 157.500 đồng; 01 biển quảng cáo, dạng hình hộp chữ nhật kích thước (70 x 130 x 15)cm, phần nền biển nhựa Meca bị vỡ không rõ hình dạng, kích thước (12 x 21cm), có trị giá là 1.000.000 đồng; cánh cổng sắt bị rách phần lưới sắt dài 37cm, rộng 0,3cm, không phải sửa chữa thay thế, không làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ cũng như giá trị sử dụng, thiệt hại là 0 đồng. Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng là 4.475.500 đồng.
Tại kết luận giám định số 6446/C54(P3) ngày 29/12/2017, Viện khoa học hình sự Bộ Công an xác định khẩu súng (dài 112cm, nòng súng dài 69cm, có bộ phận hình trụ tròn nén hơi gắn đồng hồ kim đo chỉ số hơi nén, báng súng bằng gỗ màu vàng), các viên đạn bi sắt (04 viên bi kim loại đường kính 0,3cm) mà bị cáo L đó sử dụng đem giám định là: “súng bắn bi bằng hơi nén, thuộc đồ chơi nguy hiểm, không phải vũ khí và không có tính năng tác dụng tương tự như vũ khí– không phải vũ khí quân dụng”, “04 viên kim loại gửi đến giám định dùng bắn được cho khẩu súng trên”.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2018/HSST ngày 26/4/2018, Tòa án nhân dân huyện Bình Giang đã áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự (viết tắt là BLHS) 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội xử phạt bị cáo Lê Văn T 07 tháng tù, bị cáo Nguyễn Văn L 06 tháng tù. Ngoài ra, bản án còn quyết định hình phạt đối với bị cáo S, tuyên xử lý về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 02/5/2018, bị cáo T và L đều kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thay đổi yêu cầu kháng cáo và xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố, phát biểu luận tội, đánh giá tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đánh giá việc bị cáo tự nguyện nộp án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm là tình tiết giảm nhẹ mới; Đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt là HĐXX) chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, xử phạt bị cáo T 05 tháng tù, bị cáo L 04 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ ngày 14/12/2017, tại quán Karaoke Golden ở thôn Trại Như, xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương của anh Trần Văn Q1, bị cáo Lê Văn T đã dùng dao chém vào cổng sắt, nhặt đá ném vào cửa quán và ném vỡ biển quảng cáo bằng Meca; Nguyễn Văn S dùng tuýp sắt đập vào cổng sắt, nhặt đá ném vào cửa quán, Nguyễn Văn L dùng súng bắn bi bằng hơi nén tự chế bắn 03 phát đạn vào cánh cửa kính bằng khung gỗ tầng 1, bắn 01 phát vào cánh cửa sổ kính khung gỗ tầng 2 của quán làm hư hỏng tài sản của anh Q1, thiệt hại tài sản là 4.318.000 đồng; L dùng súng bắn 01 phát vào ô kính phòng nghỉ 501 tầng 5 nhà nghỉ Hương Cau của gia đình ông Phạm Văn Q2, giáp cạnh quán Karaoke, tài sản thiệt hại của ông Q2 trị giá 157.500 đồng. Tổng giá trị tài sản hư hỏng là 4.475.500 đồng. Các bị cáo thực hiện hành vi vào ngày 14/12/2017, thời điểm BLHS năm 2015 chưa có hiệu lực nhưng do tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại Điều 178 BLHS năm 2015 nhẹ hơn so với Điều 143 BLHS năm 1999 nên theo hướng dẫn tại nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017, cấp sơ thẩm xét xử Lê Văn T, Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn S về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo thì thấy:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây thiệt hại về tài sản và mất trật tự trị an trong khu vực, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Trong vụ án, Lê Văn T là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ gồm dao và tuýp sắt, đồng thời trực tiếp dùng dao chém vào cửa sắt, dùng đá ném vào cửa kính và ném vỡ biển hiệu của quán, Nguyễn Văn L chuẩn bị súng và bắn vào các cửa kính. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng vai trò, nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm của các hành vi phạm tội của các bị cáo và xử phạt Lê Văn T 07 tháng tù và Nguyễn Văn L 06 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, xét nguyên nhân các bị cáo phạm tội cũng có một phần lỗi của người bị hại vì sau khi xô xát, bị cáo T và đồng bọn đã bỏ về nhưng anh Q1 đã gọi bị cáo T đến và đánh bị cáo T dẫn đến bức xúc cho các bị cáo, nhận thức được nguyên nhân do một phần lỗi của mình nên người bị hại tiếp tục có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo- đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS mà cấp sơ thẩm chưa xem xét, vì vậy cần xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ này cùng các tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã áp dụng để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Hải Dương, sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS cũng đủ sức giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Các bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hinh sự
̀ phúc thẩm.
Do các bị cáo đang tại ngoại, nên HĐXX quyết định bắt và tạm giam các bị cáo tại phiên toà để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 347 BLTTHS.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Văn L, sửa bản án hình sự số 17/2018/HS-ST ngày 26/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hộiXử phạt bị cáo Lê Văn T 05 (Năm) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 16/7/2018.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 04 (Bốn) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 16/7/2018.
Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 16/7/2018.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - TAND huyện Bình Giang; - VKSND huyện Bình Giang; - Chi cục THADS huyện Bình Giang; - Công an huyện Bình Giang; - Sở TP tỉnh Hải Dương; - Phòng HSNV – CA tỉnh HD; - Bị cáo; Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuyển |