- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà H và ông P"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2018/HNGĐ-ST Ngày: 28- 05-2018 V/v tranh chấp: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Đẹp 2. Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên toà: Bà Lê Ánh Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1255/2017/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2018/QĐXX-ST ngày 19 tháng 04 năm 2018 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh H Địa chỉ: số A đường B, phường T, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. 2.Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Phƣơng Địa chỉ: số A đường B, phường T, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh H và ông Nguyễn Thanh P tự nguyện kết hôn, được UBND phường T, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 147, quyển số 01/2013, ngày 20/12/2013.
Quá trình chung sống giữa bà H và ông P thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, mặc dù bà H nhiều lần cố gắng nhưng vẫn không hàn gắn được tình cảm. Vào tháng 7/2016, ông P bỏ nhà đi đâu không rõ. Bà H đã tiến hành thủ tục tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với ông P theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức gì của ông P. Nay bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông P.
Về con chung: Bà H và ông P có 01 con chung tên là Nguyễn Lê Bảo A, sinh ngày 01/12/2015. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa giải quyết.
Quan điểm của Viện kiểm sát: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 53, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H và giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; về tài sản chung bà H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Thanh P nhiều lần nhưng ông P không đến Tòa. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để ông P tham gia phiên tòa nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh H và ông Nguyễn Thanh P tự nguyện kết hôn, được UBND phường T, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 147, quyển số 01/2013, ngày 20/12/2013. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Theo lời trình bày của bà H, trong quá trình chung sống, giữa bà H và ông P xảy ra nhiều mâu thuẫn không giải quyết được. Qua các tài liệu do nguyên đơn cung cấp và Tòa án thu thập được cho thấy: ông Nguyễn Thanh P đã bỏ nhà đi từ tháng 7/2016 và ngày 29/11/2016 có quyết định truy nã; bà H đã làm các thủ tục thông báo tìm kiếm ông P theo đúng quy định của pháp luật nhưng đến nay ông P vẫn không trở về. Hội đồng xét xử thấy rằng: ông P đã vi phạm nghĩa vụ của người chồng là không chung sống với vợ để cùng vợ chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, giáo dục con chung phát triển lành mạnh trở thành người công dân có ích cho xã hội. Mâu thuẫn giữa bà H và ông P thực tế đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H về việc được ly hôn ông Phương.
Về con chung: Bà H và ông P có 01 con chung tên là Nguyễn Lê Bảo A, sinh ngày 01/12/2015. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay ông P bỏ nhà đi không quan tâm, không có trách nhiệm với gia đình nên giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc mới đảm bảo được điều kiện phát triển của cháu A, vì vậy chấp nhận yêu cầu được nuôi con chung của bà Huyền. Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí: Nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp nên bà H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
QuyÕt ®Þnh
Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự,
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
1.Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Bà Lê Thị Thanh H được ly hôn ông Nguyễn Thanh P.
2.Về con chung: Bà Lê Thị Thanh H và ông Nguyễn Thanh P có 01 con chung tên là Nguyễn Lê Bảo A, sinh ngày 01/12/2015. Giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà H không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ông P được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, bà H và ông P đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như yêu cầu thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung.
3.Về tài sản chung: Bà H và ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4.Về án phí: Nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2016/0007754 ngày 07 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Như vậy, bà H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
| N¬i nhËn: -TAND tỉnh Khánh Hòa - VKSND TP.Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa - Chi cục THA dân sự TP.NT, tỉnh Khánh Hòa -UBND phường Lộc Thọ, TP.Nha Trang - Các đương sự - Lưu hồ sơ, văn phòng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Thanh Hải |