vanban.org

Bản án 65/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 28/11/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 9, Điều 10, Điều 103 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Khoản 1 Điều 56, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng…

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Thùy T. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thùy T được ly hôn với anh Jeong J.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "nguyên đơn chị Lê Thị Thùy T - Bị đơn: anh Jeong J"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 9, Điều 10, Điều 103 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Khoản 1 Điều 56, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng…
  • Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:65/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 28/11/2018
V/v xin ly hôn có yếu tố nước ngoài

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Minh Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Tâm;

Bà Trần Thị Ngọc Trân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Mai Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2016/TLST-HNGĐ ngày 31/5/2016 về việc: “Xin ly hôn có yếu tố nước ngoài” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2018/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Lê Thị Thùy T, sinh ngày 25/10/1991;

Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang, Việt Nam (Có mặt).

- Bị đơn: anh Jeong J, sinh ngày 26/12/1968;

Địa chỉ: Jeju-si Jeju-do, Hàn Quốc (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 11/5/2016 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Thùy T trình bày:

Thông qua mai mối chị có quen biết và tiến tới hôn nhân với anh Jeong J, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/6/2011, số 498, quyển số 02. Sau khi kết hôn, anh Jeong J có bảo lãnh chị về Hàn Quốc chung sống. Do vợ chồng bất đồng ngôn ngữ không thể trao đổi thấu hiểu lẫn nhau nên trong thời gian chung sống tình cảm vợ chồng không được vun đắp. Bên cạnh đó, do bất đồng phong tục tập quán và tính tình đôi bên không hòa hợp nên vợ chồng không tìm thấy hạnh phúc. Vợ chồng chung sống được 1 năm thì chị bỏ ra ngoài sống riêng và ly thân với anh Jeong J từ năm 2012. Đến tháng 12/2015 chị trở về Việt Nam sinh sống cho đến nay.

Xét thấy vợ chồng mâu thuẫn đã lâu, tình cảm đôi bên không còn và không thể hàn gắn lại được nên chị yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh Jeong J.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị xác định trong quá trình chung sống chị và anh Jeong J không có con chung, không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Đối với bị đơn anh Jeong J: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp cho Đại sứ quán của Việt Nam tại Hàn Quốc theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự và Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19 tháng 10 năm 2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao “Quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự” đến nơi bị đơn anh Jeong J cư trú theo địa chỉ chị T cung cấp tại: Jeju-si Jeju-do, Hàn Quốc để tiến hành tống đạt và niêm yết thông báo thụ lý vụ án; thông báo ngày mở phiên họp hòa giải và phiên tòa giải quyết ly hôn theo quy định pháp luật nhưng anh Jeong J không đến nhận hồ sơ tống đạt và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thùy T.

Tại phiên tòa, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu ý kiến: về thẩm quyền xét xử vụ án, do vụ án có đương sự là anh Jeong J là người nước ngoài, nên Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn là anh Jeong J mặc dù Tòa án đã thực hiện đầy đủ hợp lệ việc ủy thác tư pháp về tống đạt văn bản tố tụng cho anh Jeong J nhưng anh không có phản hồi và không nhận hồ sơ tống đạt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Jeong J là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thùy T: do chị T mất liên lạc với anh Jeong J đã lâu và chị đã sống ly thân với anh J từ năm 2012 cho đến nay, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T. Về con chung, tài sản chung, nợ chung các bên không yêu cầu, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Jeong J đã được Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự và Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19 tháng 10 năm 2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao “Quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự” để tiến hành tống đạt và niêm yết công khai thông báo thụ lý vụ án; thông báo ngày mở phiên họp hòa giải và phiên tòa giải quyết ly hôn tại nơi bị đơn anh Jeong J cư trú: # 226 Ongpo-ri Hanrim-eup Jeju-si Jeju-do, Hàn Quốc. Tuy nhiên cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc không tống đạt được do không có người nhận.Chị T cũng không cung cấp được địa chỉ mới của anh Jeong J. Tòa án đã yêu cầu cơ quan đại diện Việt Nam tại Hàn Quốc đăng thông báo lên cổng thông tin điện tử nhưng anh Jeong J không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thùy T. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bị đơn anh Jeong J.

[2].Về thẩm quyền giải quyết: Trong vụ án có một bên là anh Jeong J là người nước ngoài nên Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 123 Luật hôn nhân gia đình; khoản 3 Điều 35, Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Thùy T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: thông qua mai mối nên chị Lê Thị Thùy T và anh Jeong J tự nguyện tìm hiểu nhau và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/6/2011, số 498, quyển số 02 là phù hợp với quy định tại Điều 9, Điều 10, Điều 103 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân gia đình về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng đối với hôn nhân của chị T và anh Jeong Jiong thì anh, chị kết hôn là do mai mối, thời gian tìm hiểu nhau chỉ khoảng vài tháng, hai bên bất đồng ngôn ngữ, văn hóa, trong cuộc sống không hiểu nhau. Sau khi qua Hàn Quốc năm 2011 thì đến năm 2012, chị T đã bỏ đi và không còn liên lạc với anh Jeong Jiong nên không duy trì được mối quan hệ vợ chồng. Hiện chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh, chị không thể xây dựng được gia đình hạnh phúc. Do đó, xét thấy mục đích hôn nhân của chị T và anh Jeong Jiong không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc cho chị T được ly hôn với anh Jeong J theo qui định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống chị T và anh Jeong J không có con chung nên không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: chị T không yêu cầu và anh Jeong J không ý kiến nên không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Lê Thị Thùy T phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chị T đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 3 Điều 35, Điều 37, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 3 Điều 474, điểm b khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng: Điều 9, Điều 10, Điều 103 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Khoản 1 Điều 56, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; khoản 8 Điều 27, khoản 1 mục I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Thùy T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thùy T được ly hôn với anh Jeong J.

2. Về quan hệ con chung: chị Lê Thị Thùy T và anh Jeong J không có con chung nên không xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: chị Lê Thị Thùy T không yêu cầu và anh Jeong J không có ý kiến nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Thùy T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 200.000 đồng, được khấu trừ 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chị T đã nộp theo biên lai thu tiền án phí, lệ phí số 0004938 ngày 24 tháng 5 năm 2016 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

5. Quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Thùy T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao xét xử lại bản án theo thủ tục phúc thẩm.

Riêng anh Jeong J có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Kiên Giang;

- Cục THA dân sự tỉnh Kiên Giang;

- UBND tỉnh Kiên Giang;

- Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Ngô Thị Minh Trang

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ