vanban.org

Bản án 65/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 21/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Huy C phạm tội: Cố ý gây thương tích.

33 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Huy C 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời gian thi hành Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Huy C - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Huy C phạm tội: Cố ý gây thương tích.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 65/2017/HSST

Ngày: 21/12/2017

HUYỆN THỌ XUÂN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tố Như Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Bình Ông Lưu Minh Sửu - Thư ký phiên toà: Ông Cao Hồng Đức là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên toà: Ông Đỗ Văn Huy - Kiểm sát viên. Ngày 21 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã X T , huyện T X , tỉnh T H tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 70/2017/HSST ngày 21/11/2017 đối với bị cáo: Họ và tên: Lê Huy C . Sinh năm 1993. STQ: Xóm 11, xã X T , huyện T X , T H . Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12. Con ông Lê Huy H và bà Lê Thị V . Bị cáo chưa có vợ. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/9/2017 tại Trại giam công an tỉnh Thanh Hóa. Hiện có mặt tại phiên tòa. Người bị hại: 1, Anh Lê Văn C , sinh năm: 1991 ( có mặt) Địa chỉ: Thôn 16B, xã T X , huyện T X , tỉnh T H . Người làm chứng: 1, Chị Nguyễn Thị Đ , sinh năm: 1968 ( vắng mặt) 2, Chị Lê Thị H , sinh năm: 1975 (có mặt). Đều trú tại: Xóm 11, xã X T, huyện T X , T H . 3, Anh Trần Văn H , sinh năm: 1990 (có mặt). Địa chỉ: Khu 5, Thị trấn S V , huyện T X , T H . NHẬN THẤY Bị cáo Lê Huy C bị Viện kiểm sát nhân dân huyện T X truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng hơn 12 giờ ngày 17/02/2017 Lê Huy C đang ở trong nhà thì nhìn thấy Lê Văn C đang sửa máy cày trên đường bê tông ngay trước cổng nhà mình, nhớ lại vào năm 2011 khi đó C đang học lớp 10 trường THPT T X 5 thì Lê Văn C có mượn 01 chiếc điện thoại di động Q- Mobile của C nhưng đến nay vẫn chưa trả, C liền nảy sinh ý định đánh C để trả thù. C quay vào nhà lấy 01 đoạn tuýp sắt dài khoảng 60cm, rộng 2cm, màu xám đi ra đánh C . Khi C quay ra thì anh C đã sửa xong máy cày và đang điều khiển xe máy đi về nhà, C đứng ra chặn đầu xe của C lại buộc C phải dừng xe, lúc này C cầm tuýp sắt đánh vào vai trái, lưng, chân của anh C nhiều cái. Bị đánh anh C liền nói: " sao lại đánh tao", C nói: " mày nhớ trước kia lấy điện thoại của tao đi cắm không?", rồi C cầm tuýp sắt vung lên đập 01 cái trúng vào đầu C bị đánh trúng vào đầu chảy máu anh C dùng hai tay ôm lấy đầu và ngồi sụp xuống đất Chị Nguyễn Thị Đ , chị Lê Thị H và anh Trần Văn H nghe thấy có tiếng đánh nhau ở ngoài đường đã chạy ra can ngăn nên C không đánh anh C nữa. Thấy anh C bị chảy nhiều máu ở vùng đầu nên anh H , chị H đã dùng xe máy đưa anh C đến Trạm y tế S V sơ cứu, sau đó được người nhà đưa đến bệnh viện đa khoa huyện N L nằm điều trị đến ngày 24/02/2017 thì xuất viện. Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với anh Lê Văn C thể hiện: Trên đỉnh đầu có 01 vết rách da dài 10cm, sâu 1cm chảy máu; mỏm vai trái có 01 vết bầm kích thước 5cmx1cm; mặt ngoài cẳng chân phải có 01 vết bầm kích thước 5cmx1,5cm; mặt ngoài đùi trái có 01 vết bầm kích thước 15cmx1,5cm. Ngày 22/8/2017 anh Lê Văn C có đơn đề nghị giám định pháp y về thương tích. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 353/2017/TTPY ngày 01/9/2017 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh đầu phía trước lệch bên phải; số lượng sẹo ít, kích thước lớn 10%. Chấn thương vùng đầu gây chấn động não, hiện tại đã được điều trị ổn định: 1%. Các chấn thương, vết thương phần mềm khác đã được điều trị; hiện tại không để lại sẹo thương phần mềm, không có di chứng do chấn thương: 0%. Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% (mười một phần trăm). Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Trong quá trình điều tra, anh Lê Văn C yêu cầu bị cáo Lê Huy C phải bồi thường toàn bộ chi phí điều trị và tài sản bị thiệt hại là: 29.305.000đ, nhưng tại phiên tòa anh C yêu cầu bị cáo C phải bồi thường số tiền là: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Yêu cầu của anh C được bị cáo C chấp nhận và đã bồi thường cho anh C được 12.000.000đ (mười hai triệu đồng). Về vật chứng vụ án: Là đoạn ống kim loại Lê Huy C dùng làm hung khí gây thương tích cho anh Lê Văn C , Cơ quan CSĐT Công an huyện T X đã tổ chức truy tìm nhưng không có kết quả. Tại bản cáo trạng số 70/VKS-HS ngày 20/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T X đã truy tố bị cáo Lê Huy C về tội: Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 2 Điều 104 BLHS. Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị HĐXX: - Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự. - Xử phạt Lê Huy C mức án từ 30 (ba mươi) tháng tù đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Đề nghị HĐXX xử lý phần dân sự và án phí theo quy định của pháp luật . Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa hôm nay qua thẩm vấn công khai, bị cáo Lê Huy C đã thành khai khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng hơn 12 giờ ngày 17/02/2017 Lê Huy C đã có hành vi dùng gậy bằng kim loại (tuýp sắt) dài 60cm, rộng 2cm là hung khí nguy hiểm đánh gây thương tích cho anh Lê Văn C với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11 % (mười một phần trăm). Giữa bị cáo và bị hại có sự mâu thuẫn từ trước. Nguyên nhân là do thời gian còn đi học anh C có mượn của Cường 01 chiếc điện thoại di động Qmobile nhưng không trả. Khi gặp lại anh C đang sửa máy cày trước cổng nhà mình thì C đã dùng gậy bằng kim loại đánh vào các bộ phận trên cơ thể anh C làm anh C bị thương phải đi điều trị thương tích tại các cơ sở y tế. Hành vi của Lê Huy C dùng gậy kim loại gây thương tích cho anh Lê Văn C đã phạm vào tội: Cố ý gây thương tích được quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình dự. Hành vi của bị cáo Lê Huy C thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường tính mạng sức khỏe của người khác. Như vậy Viên kiểm sát nhân dân huyện T X truy tố bị cáo Lê Huy C về tội: Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm thân thể, sức khỏe người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Mặc dù nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố. Hơn nữa do tính chất nghiêm trọng của vụ án. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian tạo điều kiện cho bị cáo cải tà quy chính để giáo dục chung và phòng ngừa riêng. Khi quyết định hình phạt cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt được quy định tại các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự vì thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường cho người bị hại, người bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Văn C yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh các khoản chi phí điều trị là 20.000.000đ được bị cáo Lê Huy C chấp nhận và đã bồi thường cho anh C được 12.000.000đ. Việc thỏa thuận giữa bị cáo và người bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội nên được HĐXX ghi nhận, còn lại 8.000.000đ cần buộc bị cáo Cường phải tiếp tục bồi thường cho anh C . Vật chứng của vụ án là 01 cây gậy bằng kim loại là hung khí Lê Huy C đã dùng gây thương tích cho anh Lê Văn C , Cơ quan CSĐT đã truy tìm nhưng không có kết quả. Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Huy C phạm tội: Cố ý gây thương tích. Áp dụng khoản 2 Điều 104; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Huy C 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời gian thi hành hình phạt tù tính từ ngày 18 tháng 9 năm 2017. Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; các Điều 585; 590 Bộ luật Dân sự. Bị cáo Lê Huy C còn phải bồi thường tiếp cho anh Lê Văn C số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng) . Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc bị cáo Lê Huy C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ (một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Áp dụng Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ