vanban.org

Bản án 65/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 19/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lƣờng Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Xử phạt Lƣờng Văn P: 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/4/2017. Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lƣờng Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG LA
TỈNH SƠN LA
_______

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2017/HSST
Ngày 19 -9-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG LA, TỈNH SƠN LA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Điêu Thị Kim Liên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cà Văn Đại

Bà Thào Thị Dua

Thư ký phiên toà: Bà Quàng Thị Thủy, Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Mƣờng La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Tạ Văn Minh – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mƣờng La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2017/TLST - HS ngày 16 tháng 8 năm 2017 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 70/2017/HSST – QĐ ngày 05 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Lường Văn P sinh năm 1972 tại xã CL, huyện ML, tỉnh Sơn La; Nơi cƣ trú: Bản PC, xã CL, huyện ML, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Chức vụ, đoàn thể: Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (Bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 52 – QĐ/UBKTHU ngày 20/4/2017 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy Mƣờng La); Con ông Lƣờng Văn T và bà Lò Thị Y (đã chết); bị cáo có vợ là Lò Thị T và 03 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2017. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 11/4/2017 Lƣờng Văn P đang đi bộ tại khu vực bản PC, xã CL, huyện ML thì gặp Quàng Văn T, T hỏi mua hêrôin, P nhất trí bán 01 gói hêrôin cho T với giá 300.000đ. Khi P nhận tiền và đƣa hêrôin cho T thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm:

01 gói giấy nilon màu xanh bên trong đựng chất bột màu trắng thu giữ trên tay phải của Quàng Văn T; Số tiền 300.000đ Lƣờng Văn P tự giác giao nộp.

Ngày 11/4/2017 cơ quan điều tra Công an huyện Mƣờng La đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu gửi giám định. Kết quả cân tịnh: Số bột màu trắng thu giữ có khối lƣợng 0,06 gam; lấy 0,06 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu PT.

Tại kết luận giám định số 430KLMT ngày 14/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu PT là chất ma túy; loại chất Heroine.

Do có hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số 499/KSĐT- MT ngày 15-8-2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mƣờng La đã truy tố bị cáo Lƣờng Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lƣờng Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mƣờng La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng ngƣời, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lƣờng Văn P đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Lƣờng Văn P từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì đã đƣợc niêm phong dán kín, bên trong đựng vỏ phong bì cũ + giấy gói cũ là vật chứng không có giá trị sử dụng. Tịch thu sung quỹ số tiền 300.000đ do phạm tội mà có. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lƣờng Văn P không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mƣờng La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mƣờng La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Lƣờng Văn P khai nhận: Vào ngày 11/4/2017 đã có hành vi bán trái phép 0,06 gam hêrôin cho Quàng Văn T với giá 300.000đ tại khu vực bản P C, xã CL, huyện ML, tỉnh Sơn La nhằm mục đích bán kiếm lời thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của ngƣời mua hêrôin là Quàng Văn T, lời khai của ngƣời làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi trên của bị cáo Lƣờng Văn P đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Mƣờng La đã truy tố là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà nƣớc, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phƣơng thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Bản thân bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi bán trái phép chất ma tuý là phạm tội nhƣng vì hám lợi bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó, cần cho bị cáo hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh tài sản của Cơ quan điều tra, xét bị cáo không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Quàng Văn T là đối tƣợng nghiện ma túy, mua hêrôin của Lƣờng Văn P để sử dụng, tuy nhiên khối lƣợng ma túy không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an huyện Mƣờng La đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Quàng Văn T là đúng quy định.

Về nguồn gốc số hêrôin Lƣờng Văn P khai mua của của một ngƣời đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ tại khu vực bản AN, xã HT, huyện ML vào ngày 10/4/2017. Ngoài lời khai của bị cáo cơ quan điều tra không thu đƣợc chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ để điều tra mở rộng vụ án. Buộc bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm số hêrôin thu giữ.

Vật chứng vụ án: 01 chiếc phong bì đã đƣợc niêm phong dán kín bên trong có vỏ phong bì cũ, giấy gói cũ là vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Số tiền 300.000đ thu giữ của P xác định là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Lƣờng Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Áp dụng khoản 1 điều 194; điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự:

Xử phạt Lƣờng Văn P: 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/4/2017.

Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

-Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm b khoản 1 điều 41 Bộ luật hình sự; điểm c, đ khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc phong bì đã đƣợc niêm phong dán kín bên trong đựng vỏ phong bì cũ + giấy gói cũ.

Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc số tiền: 300.000đ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/8/2017 giữa Công an huyện Mƣờng La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mƣờng La).

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Lƣờng Văn P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ