vanban.org

Bản án 649/2020/HNGĐ-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/07/2020 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/07/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc T-Nguyễn Thị X"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾
Bản án số: 649/2020/HNGĐ-PT
Ngày: 08/7/2020.
Vụ án “Tranh chấp thay đổi người

trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

!

-!Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Điệp.

Các Thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Lê Thiên Hương.

2. Bà Quách Thanh Bình.

-"Thư"ký"phiên"tòa: Bà Trần Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh.

- Đại"diện"Viện"Kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh: Bà Võ

Thị Vĩnh Hưng - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 08 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2020/TLPT-

HNGĐ ngày 13/02/2020 về “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con

sau khi ly hôn”.

Do bản án sơ thẩm số 1596/2019/HNGĐ-ST ngày 21/11/2019 của Toà án

nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh bị bị đơn kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3038/2020/QĐPT-

HNGĐ ngày 15/6/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa

các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1975; Địa chỉ: 169 Lê

Cơ, phường I, quận P, Thành phố K (có mặt)

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm: 1985; Địa chỉ: 169 Lê Cơ, phường

P, quận N, Thành phố P; Tạm trú: 614 A5 Chung cư Ehome 3, khu phố 2,

phường P, quận M, Thành phố O (có mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!

Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T trình bày: ông và bà Nguyễn Thị Xđã

ly hôn theo quyết định số 464/2018/HNGĐ-ST ngày 10/4/2018 của Tòa án

nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi ly hôn, ông và bà thỏa

thuận giao hai con chung là Nguyễn Xuân M, sinh ngày 10/9/2008 và Nguyễn

Mai P, sinh ngày 27/3/2011 cho bà Nguyễn Thị X trực tiếp nuôi dưỡng và ông có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng/tháng/02 trẻ. Kể từ ngày Tòa án giao quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung cho bà Xuân, bà Xuân không thực hiện đầy đủ trách nhiệm đưa đón con đi học, lo ăn uống và các sinh hoạt hằng ngày cho các con. Hiện hai con đang sống cùng với ông, ông trực tiếp chăm sóc, đưa đón, dạy dỗ. Bà X thỉnh thoảng về thăm. Nay nguyện vọng của hai con là ở với ông. Ông có công việc làm ổn định, có công ty riêng, thu nhập đảm bảo cuộc sống và việc học hành của các con. Hơn nữa, các cháu vẫn đang sống ổn định tại căn nhà từ trước giờ ông và bà Xuân cư trú là 169 O phường P, quận Bình Tân. Ông yêu cầu thay đổi quyết định giao cho ông được trực tiếp nuôi con để phù hợp với thực tế nhằm rõ ràng về mặt pháp lý.

Bị đơn bà Nguyễn Thị X trình bày: bà xác nhận lời trình bày trên của

ông Thành là đúng. Nhưng nguyên nhân bà không trực tiếp nuôi con là do ông Thành gây áp lực buộc bà phải dọn ra ngoài sống. Ông Thành không đồng ý chia tài sản sau ly hôn và thu nhập từ tài sản chung do ông Thành quản lý hết. Ông Thành không chu cấp tiền nuôi con (chỉ cấp dưỡng tiền nuôi con 01 tháng đầu). Bà thấy hai con chung đang sống ổn định từ trước đến nay tại 169 Lê Cơ, phường L, quận P nên tạm thời bà không muốn thay đổi chỗ ở của các con. Hơn nữa, căn nhà trên vẫn thuộc quyền sở hữu chung của bà và ông T do tài sản chung chưa chia. Bà thừa nhận ông Thành có điều kiện kinh tế hơn bà, thu nhập ổn định hơn. Do đó, bà không muốn hai con phải theo bà để chịu đựng cuộc sống khổ cực, vì kinh tế bà không ổn định nên bà đã để hai con ở lại cho ông T chăm sóc và bà thường xuyên qua lại quan tâm hai con. Bà tôn trọng quyết định của hai con, bà không muốn hai cháu phải thiệt thòi và ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại của hai con. Tuy nhiên, bà không đồng ý ký giấy thay đổi quyền nuôi con.

Bản án sơ thẩm số 1596/2019/HNGĐ-ST ngày 21/11/2019 của Toà án

nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc T

Giao hai trẻ Nguyễn Xuân Mai, sinh ngày 10/9/2008 và Nguyễn Mai P,

sinh ngày 27/3/2011 cho ông Nguyễn Ngọc Ttrực tiếp nuôi dưỡng. Thời gian thực hiện là ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Ngọc T không yêu cầu bà

Nguyễn Thị Xuân cấp dưỡng nuôi con chung.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 03/01//2020, bà Nguyễn Thị X nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án

sơ thẩm, bà đề nghị giao cho bà được quyền nuôi con.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu, xác định kháng cáo toàn bộ bản án sơ

thẩm, đề nghị không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn. Bà xác định khi có quyết định công nhận thuận tình ly hôn giao con cho bà trực tiếp nuôi, do

cuộc sống khó khăn nên bà đưa hai con trở về giao cho ông T để các con có điều

kiện tốt hơn. Nay bà yêu cầu giao cho bà quyền được nuôi hai con chung và bà

được ở trong căn nhà chung của vợ chồng hiện nay.

- Nguyên đơn: đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Quá trình tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm xem xét giải quyết vụ án đã được thực

hiện đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của bà Xuân trong thời hạn luật

định; bản án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện để đảm bảo sự ổn định, quyền

và lợi ích hợp pháp của hai trẻ nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận

kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

XÉT!THẤY!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm

tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử

phúc thẩm nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị X làm

trong thời hạn, đương sự đã nộp tiền tạm ứng án phí kháng cáo trong thời hạn,

phù hợp với các quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

2. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn: Bị đơn kháng cáo, đề

nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao cho bà được quyền

nuôi con.

Xét thấy, thực tế sau khi có quyết định công nhận thuận tình ly hôn số

464/2018/HNGĐ-ST ngày 10/4/2018 của Toà án nhân dân quận Bình Tân,

Thành phố Hồ Chí Minh thì hai bên đương sự vẫn thoả thuận hai trẻ Nguyễn

Xuân M và Nguyễn Mai P vẫn tiếp tục ở với ông Nguyễn Ngọc T. Giữa ông T

và bà Xchưa giải quyết việc chia tài sản chung nên hai trẻ vẫn sống ổn định

trong căn nhà trên. Tại bản khai ngày 12/9/2019, bà Xuân có ý kiến “tôi vẫn tôn

trọng quyết định của hai cháu, tôi không muốn hai cháu phải thiệt thòi và ảnh

hưởng đến cuộc sống vì các cháu đã ở ổn định trong căn nhà trên từ khi sinh

ra”. Tại phiên toà, bà X thừa nhận sau khi có quyết định công nhận thuận tình

ly hôn bà mang con đi được một tháng nhưng do cuộc sống khó khăn nên bà

đưa con về giao cho ông T

Theo bản ghi nhận nguyện vọng của hai trẻ có sự chứng kiến của cả ông

Thành và bà Xuân thì trẻ Nguyễn Mai P và Nguyễn Xuân M đều muốn được

ở chung bố, trẻ Mai còn có mong muốn được ở với em. Do đó, nếu giao con

cho bà Xuân hoặc giao mỗi người nuôi một con thì không phù hợp với

nguyện vọng của hai trẻ, trẻ không chỉ thiếu vắng cha hoặc mẹ mà còn thiếu

cả tình cảm chị em, điều này sẽ làm ảnh hưởng đến tâm tư tình cảm và xáo

trộn cuộc sống hiện nay của trẻ. Mặc khác, việc giao con cho một trong hai

bên trực tiếp nuôi dưỡng không làm mất đi quyền thăm nom, chăm sóc giáo

dục con chung mà chỉ căn cứ vào tình hình thực tế để đảm bảo tốt nhất quyền

lợi của trẻ chưa thành niên. Do đó, cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tình hình thực tế, nguyện vọng cũng như quyền lợi của trẻ chưa thành niên để giao 02 trẻ cho ông T nuôi nhằm đảm bảo cuộc sống ổn định và sự phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên giữ nguyên bản án sơ thẩm. Việc cấp dưỡng và người trực tiếp nuôi con có thể được thay đổi khi có yêu cầu nên nếu điều kiện, hoàn cảnh có thay đổi và để bảo đảm lợi ích, điều kiện tốt nhất cho trẻ chưa thành niên, một trong hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Án phí dân sự phúc thẩm: yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp

nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bởi các lẽ trên,

- Căn cứ khoản 3 Điều 28, Điều 273, Điều 276, Điều 293, khoản 1 Điều

308, khoản 6 Điều 313, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm

2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016. Căn cứ khoản 01, Mục I, Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án;

QUYẾT!ĐỊNH!

1. Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn.

2. Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ

nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 1596/2019/HNGĐ-ST ngày 21/11/2019 của Toà án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể:

2.1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc T.

Ông Nguyễn Ngọc T được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục hai trẻ Nguyễn

Xuân M, sinh ngày 10/9/2008 và Nguyễn Mai P, sinh ngày 27/3/2011. Ghi nhận việc ông Nguyễn Ngọc T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Bà Nguyễn Thị X được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung,

không ai được ngăn cản bà X thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của trẻ chưa thành niên, một hoặc cả hai đương sự được quyền

yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí:

+ Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Ngọc T tự nguyện chịu án phí sơ

thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2019/0018839 ngày 19/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận N, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T đã nộp đủ án phí.

+ Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị X phải chịu án phí dân sự

phúc thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào biên lai tạm ứng án phí số AA/2019/0064725 ngày 03/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà X đã nộp đủ án phí.

4. Quyền và nghĩa vụ của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi

hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa

thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị

cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân

sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành

án dân sự.

Nơi"nhận:"""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""TM.HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!

- TAND Tối cao;

THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!

- TAND, VKSND Cấp cao tại TP.HCM;

!

- VKS, TA, THA quận Bình Tân;

!

- Các đương sự;

!!!!!!!!

- Lưu hồ sơ vụ án (T/17)

"

!

!

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Châu!Thị!Điệp!

!!!!!!!!

Cỡ chữ