- Tranh chấp gì? án hành chính — "“Khởi kiện Quyết định giải quyết khiếu nại, hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai”"
- Tòa quyết gì? ác kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hà Như Q; sửa ản án hành chính sơ thẩm số 131/2024/HC-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh T5 Cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Luật T chức chính quyền địa phương; Điều 105 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 646/2024/HC-PT Ngày: 02/12/2024 Khởi kiện QĐ giải quyết khiếu nại, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hải;
Các Thẩm phán:
Ông Thái Duy Nhiệm;
Bà Lê Thị Mai.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử vụ án hành chính phúc thẩm thụ lý số 474/2024/TLPT-HC ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “Khởi kiện Quyết định giải quyết khiếu nại, hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai”, do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 131/2024/HC-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh T5.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12813/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 11 năm 2024.
* Người khởi kiện: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1960 và ông Hà Văn H, sinh năm 1961; Cùng địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đ5; Bà N có mặt, ông H vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà N, ông H: Ông Trương Quốc V, sinh năm 1960; địa chỉ: Số nhà A, phố L, phường Đ, thành phố T, tỉnh T5; Có mặt.
* Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh T5 và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh T5.
Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Quốc T - Chủ tịch; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V, tỉnh T5; địa chỉ: Khu C, thị trấn V, huyện V, tỉnh T5.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang T1 - Giám đốc; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh T5; Vắng mặt.
3. Ông Hà Như Q, sinh năm 1952; địa chỉ: Thôn X, xã V, huyện V, tỉnh T5; Có mặt.
4. Bà Trần Thị M, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn X, xã V, huyện V, tỉnh T5; Vắng mặt.
Người kháng cáo: Ông Hà Như Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, người khởi kiện là ông Hà Văn H và bà Vũ Thị N trình bày như sau:
Ông Hà Văn H và à Vũ Thị N có diện tích đất ở và đất vườn tại thôn X, xã V, huyện V, tỉnh T5 Ngu n gốc đất được ố m ông H là cụ Hà Văn V1 và Trần Thị T2 cho tách hộ và tách thửa t năm 1984, sử dụng n định t đó đến nay, không lấn chiếm hoặc tranh chấp với ai Sau khi được bố m tách đất, ông H à N đ xây dựng các công tr nh trên đất g m: 01 nhà ở 2 gian xây năm 1988 đ cũ, 01 móng nhà xây ng đá năm 1994
Theo h sơ ản đ địa chính 299/TTg đo v năm 1986: Đất của ông H, à N ở vị trí thửa 469, tờ ản đ số 9, t ng diện tích 736m , trong đó đất ở 200m , đất chuyên canh l a 536m ; được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0025218, vào s số 1180 ngày 25/5/1994
Theo h sơ ản đ địa chính đo v năm 2003: Đất của ông H, à N ở vị trí thửa 1452 , tờ ản đ số 16, t ng diện tích 841m , trong đó đất ở 200m , đất chuyên canh l a 641m ; được cấp đ i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 119030, số vào s 1281/QS Đ/432/QĐ-CT ngày 12/5/2003
Nhưng sau đó, Ủy an nhân huyện V đ ra Quyết định số 995/QĐ-U N ngày 11/4/2023 thu h i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà ở của gia đ nh ông à với lý do: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đ ng diện tích, ranh giới đất thửa đất của hộ ông Hà Văn H, bà Vũ Thị N đ đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Hà Như Q, bà Trần Thị M và ngược lại) và hướng dẫn cho hai hộ làm thủ tục để được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sau khi nhận quyết định thu h i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông H và à N đ nhiều lần làm đơn đề nghị được làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng UBND huyện V đưa ra lý do không chính đáng để t chối việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà.
Cụ thể, Chủ tịch Ủy an nhân huyện V có các Văn ản số 1577/U - TNMT ngày 06/6/2023 và Văn ản số 2277/U -TNMT ngày 03/8/2023 trả lời khiếu nại của ông H, à N với nội dung: “Hiện trạng thửa đất của hộ à Vũ Thị N, ông Hà Văn H về phía Tây ắc giáp đất của hộ ông Hà Như Q, à Trần Thị M không có ranh giới r ràng tường rào, mốc giới cố định) Tại thực địa, cả hai gia đ nh cũng không thống nhất để xác định ranh giới gi a hai thửa đất Theo ản đ 299 xã V v năm năm 1986, tại vị trí này đo ao cả khu dân cư và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1994 cũng không thể hiện h nh dạng, kích thước cụ thể của t ng thửa đất o vậy, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V không đủ cơ sở để thực hiện đo đạc chỉnh lý thửa đất phục vụ công tác đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Hà Văn H, à Vũ Thị N”
Văn ản số 2277/U -TNMT ngày 03/8/2023 còn có nội dung: “Trên cơ sở giải quyết của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V và kết quả niêm yết công khai nội dung đo đạc hiện trạng thửa đất của UBND xã V th thửa đất của hộ à Vũ Thị N, ông Hà Văn H hiện không đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 do đang có tranh chấp”
Các Văn ản trả lời của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V còn có nội dung đề nghị hộ ông Hà Văn H, à Vũ Thị N và ông Hà Như Q, à Trần Thị M chủ động xác định ranh giới và cắm mốc trên thực địa đất sử dụng của hai hộ
Ông H, à N cho r ng khi hiện trạng đất chưa có ranh giới mà người sử dụng đất không tự xác định được ranh giới, th trách nhiệm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định diện tích và ranh giới cho người sử dụng, không thể yêu cầu người sử dụng đất phải tự xác định ranh giới đất ng, à xét thấy việc UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi không đ ng diện tích, ranh giới đất là thiếu sót của cơ quan Nhà nước, không phải do l i của người sử dụng đất kê khai không đ ng và kh ng định nội dung trong các Văn ản trả lời của Chủ tịch UBND huyện V về lý do không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông, à là không đ ng thực tế, trái với quy định pháp luật.
Đối với ý kiến của ông Hà Như Q và à Trần Thị M nói r ng phải được chia thêm phần đất của ông H, à N v đất là của bố m cho a anh em, nhưng ông Q đ ỏ tiền ra mua đất cho ông Hà Huy B là em trai) ở nơi khác Ngoài ra, gia đ nh ông Q đ chi phí cho con của ông H, à N h c tập và gia đ nh à N trước đi Đắk Lắk đ cho gia đ nh ông Q đất là không đ ng sự thật Các lý do ông Q, à M đưa ra hoàn toàn không liên quan và không phải là tranh chấp ranh giới đất gi a hai hộ. Ông Q, à M không ký iên ản làm việc xác định ranh giới đất là hành vi chống đối cơ quan Nhà nước, gây khó khăn đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà.
Ông H, bà N kh ng định việc sai sót khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là trách nhiệm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Về lý do nói r ng đất của ông H, à N chưa có h nh dạng, kích thước, không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có căn cứ, không xác định đ ng trách nhiệm của cơ quan Nhà nước theo quy định Hành vi không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đ nh ông, à của UBND huyện V là trái pháp luật.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ông H, à N đề nghị Tòa án giải quyết nh ng vấn đề sau đây:
- Hủy các Văn ản trả lời số 1577/U -TNMT ngày 06/6/2023 và Văn ản số 2277/U -TNMT ngày 03/8/2023 của Chủ tịch UBND huyện V về việc không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ à Vũ Thị N và ông Hà Văn H.
- Buộc UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Vũ Thị N và ông Hà Văn H theo quy định của pháp luật đối với thửa đất số 1452 , tờ ản đ số 16 đo v năm 2003; vị trí: Thôn X, xã V, huyện V, tỉnh T5 Sơ đ hiện trạng thửa đất theo kết quả thẩm định được ông H, à N dẫn mốc, trường hợp cần thiết phải điều chỉnh số liệu thửa đất th chấp nhận theo kết quả đo đạc khi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại Văn bản ghi ý kiến số 372/UBND-TNMT ngày 30/01/2024, người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện V trình bày:
Việc tranh chấp ranh giới thửa đất xảy ra gi a hộ bà Vũ Thị N, ông Hà Văn H với hộ ông Hà Như Q, bà Trần Thị M tại thôn X, xã V, huyện V, tỉnh T5 do ông Hà Như Q (anh trai ông Hà Văn H - chủ sử dụng thửa đất liền kề) là người có đơn kiến nghị an đầu, UBND xã V đ nhiều lần thực hiện công tác hòa giải nhưng không thành
Sau khi kiểm tra, xác minh, UBND huyện V đ an hành các văn ản trả lời, giải quyết nội dung kiến nghị của ông Hà Như Q như sau:
1 Công văn số 2180/UBND-TMMT ngày 13/8/2022 về việc trả lời đơn của công dân Hà Như Q - thôn X, xã V, huyện V, tỉnh T5 với nội dung kết luận:
- Thửa đất của hộ ông Hà Văn H và bà Vũ Thị N đ đăng ký quyền sử dụng đất và được cấp GCNQS Đ lần đầu năm 1994 theo h sơ địa chính Bản đ 299/TTg và cấp đ i năm 2003 sau khi xã V đo đạc lại bản đ địa chính.
- Việc ông Hà Như Q tranh chấp quyền sử dụng đất với hộ ông Hà Văn H, bà Vũ Thị N với nh ng lý do: gia đ nh ông H bà N đ để lại đất cho gia đ nh ông Q, gia đ nh ông H bà N vay tiền của gia đ nh ông Q, năm 2016 m ông là cụ Trần Thị T2 có đơn đề nghị chia lại thửa đất thành 03 phần nhưng không được xã giải quyết, tuy nhiên ông Q không có bất cứ h sơ, giấy tờ gì chứng minh nên không có cở sở để xem xét giải quyết.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện V cấp năm 2003 cho hai hộ gia đ nh ị sai lệch vị trí so với hiện trạng sử dụng đất. Yêu cầu UBND xã V căn cứ vào ngu n gốc và hiện trạng sử dụng đất để hướng dẫn hai hộ gia đ nh làm thủ tục cấp đ i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đ ng với vị trí thực tế đang sử dụng theo quy định.
2. Công văn số 3097/UBND-TTH ngày 28/10/2022 về việc trả lời đơn của ông Hà Như Q, thôn X, xã V, huyện V, tỉnh T5 Theo đó, UBND huyện V xác định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Trần Thị M (Quyến) và hộ bà Vũ Thị N (H) vào thời điểm năm 2003 là không đ ng quy định pháp luật (do bị sai sót, không trùng khớp với thông tin gi a h sơ đo v bản đ địa chính và hiện trạng sử dụng đất).
T đó, UBND huyện V đ an hành Thông áo số 158/TB-UBND, Thông báo số 159/TB-UBND và các Quyết định số 994/QĐ-U N , 995/QĐ-UBND cùng ngày 11/4/2023 về việc thu h i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đ cấp năm 2003 cho hộ bà Trần Thị M (Quyến) và hộ bà Vũ Thị N (Ho ng) Trong đó đ giao nhiệm vụ cho Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V thực hiện việc thu h i và quản lý Giấy chứng nhận đ thu h i; cập nhật, chỉnh lý biến động vào s địa chính theo quy định; Hướng dẫn chủ sử dụng đất hoàn thiện các h sơ, thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Sau đó, à Vũ Thị N có đơn kiến nghị về việc chậm cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đ nh à sau khi thu h i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đ cấp năm 2003
UBND huyện V đ an hành các Văn ản trả lời, giải quyết nội dung kiến nghị của bà Vũ Thị N, cụ thể như sau:
- Công văn số 1057/UBND-TNMT ngày 20/4/2023 về việc trả lời Đơn của công dân Vũ Thị N - Quê quán: thôn X, xã V, huyện V, tỉnh T5.
- Công văn số 1315/UBND-TNMT ngày 20/4/2023 về việc phối hợp, hướng dẫn công dân lập h sơ cấp đ i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 22/5/2023, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V đ có Công văn số 120/CV-UBND về việc xử lý, giải quyết theo nội dung Phiếu đề nghị đo đạc để làm cơ sở cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) của ông Lý Văn Đ người được bà Vũ Thị N ủy quyền) đối với thửa đất của hộ bà Vũ Thị N tại thôn X, xã V, huyện V Theo đó, hiện trạng thửa đất của ông Hà Văn H và bà Vũ Thị N về phía T có tiếp giáp với thửa đất của hộ ông Hà Như Q và bà Trần Thị M, nhưng gi a hai thửa đất không có ranh giới r ràng không có tường rào, mốc giới cố định). Tại thực địa, cả hai gia đ nh cũng không thống nhất để xác định được ranh giới gi a hai thửa đất. Cùng với đó là ản đ 299 xã V v năm 1986, tại vị trí này đo ao cả khu dân cư và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1994 cũng không thể hiện hình dạng, kích thước cụ thể của t ng thửa đất. Do vậy, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V không đủ cơ sở để thực hiện đo đạc, chỉnh lý thửa đất phục vụ công tác đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đ nh ông Hà Văn H cùng vợ là Vũ Thị N theo quy định.
Trên cơ sở kết quả giải quyết của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V, UBND huyện V đ an hành các văn ản trả lời đối với khiếu nại của bà Vũ Thị N như sau:
- Công văn số 1577/UBND-TNMT ngày 06/6/2023 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Vũ Thị N và ông Hà Văn H tại thôn X, xã V, huyện V.
- Công văn số 2277/UBND-TNMT ngày 03/8/2023 về việc trả lời đơn của bà Vũ Thị N về đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thôn X, xã V, huyện V.
UBND huyện V đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng đất và thuận lợi cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn.
Tại Văn bản ghi ý kiến số 144/CV-CNVPĐKĐĐ ngày 17/5/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V trình bày:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 119030, số vào s 1281/QS Đ/432/QĐ-CT ngày 12/5/2003 cấp cho hộ gia đ nh à N, ông H sai diện tích, số thửa, vị trí nên UBND huyện V thu h i là đ ng quy định Sau khi ị thu h i, việc làm h sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là nghĩa vụ của người sử dụng đất Sau khi thiết lập h sơ nếu có đủ điều kiện s được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định
Ngày 17/5/2023, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V cùng l nh đạo UBND huyện V, phòng Tài nguyên và Môi trường đ phối hợp với UBND xã V, đ ng thời mời đại diện các hộ sử dụng đất liền kề với thửa đất của gia đ nh à Vũ Thị N có mặt tại thực địa thửa đất để xác định ranh giới, mốc giới sử dụng đất gi a các hộ phục vụ đo đạc chỉnh lý thửa đất của bà Vũ Thị N và ông Hà Văn H.
Tại bu i làm việc, đoàn làm việc đ lập Biên bản làm việc trong đó có nội dung ghi nhận thửa đất của bà Vũ Thị N và ông Hà Văn H có ranh giới phía Bắc giáp với hộ ông Hà Như Q vẫn chưa thống nhất được mốc giới, ông Q không thống nhất với ranh giới mà ông H, bà N xác định tại thực địa. Vì vậy, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V không đủ cơ sở để đo đạc chỉnh lý thửa đất của bà Vũ Thị N và ông Hà Văn H. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V đ an hành Văn ản số 120/CV-CNVPĐK ngày 22/5/2023 về việc xử lý giải quyết theo nội dung Phiếu đề nghị đo đạc của ông Lý Văn Đ thường trú tại thôn T, xã V là người đại diện cho ông Hà Văn H và bà Vũ Thị N).
Trường hợp tranh chấp đất đai gi a gia đ nh ông Hà Như Q và gia đ nh bà Vũ Thị N chưa được giải quyết, ranh giới gi a hai hộ vẫn không thống nhất được thì Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V vẫn không đủ cơ sở để đo đạc chỉnh lý thửa đất của bà Vũ Thị N và ông Hà Như Q Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.
Tại Văn bản ghi ý kiến số 29/UBND ngày 16/5/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã V trình bày:
Thửa đất của hộ ông Hà Văn H và hộ ông Hà Như Q có ngu n gốc là đất của bố m đẻ hai ông là cụ Hà Văn V1 và Trần Thị T2 Năm 1984, ông Hà Văn H đ sử dụng n định thửa đất Đến năm 1994, ông H được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 736m trong đó 200m đất ở, 536m² đất cây lâu năm) Vị trí thửa số 469, tờ bản đ số 09, bản đ 299 xã V, số vào s cấp Giấy chứng nhận: 1180, số Giấy chứng nhận E0025218, cấp ngày 25/5/1994 Đến năm 2003, ông Hà Văn H được cấp đ i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng khi lập h sơ địa chính sau đo đạc bản đ năm 2002 đ có sự nhầm lẫn dẫn tới việc đăng ký sai số thửa đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị sai (cụ thể thửa đất của hộ ông Hà Văn H đ đăng ký và cấp Giấy chứng nhận cho gia đ nh ông Hà Như Q và ngược lại). Hiện nay thửa đất đ đăng ký trong h sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận không đ ng với hiện trạng sử dụng đất t trước tới nay của hai gia đ nh hai gia đ nh t khi sử dụng đất tới nay không thực hiện thủ tục tặng cho, chuyển nhượng hay đ i quyền sử dụng đất) Nhưng hộ ông Q không thống nhất được ranh giới với hộ ông H, việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông H, à N chưa thực hiện được Đề nghị Tòa án trên cơ sở h sơ, chứng cứ liên quan đưa ra phán quyết phân định mốc giới gi a hai hộ để Ủy an nhân dân x làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng
kiến của ng Hà Như Q và bà Trần Thị M: Theo ông, à th có hai lý do không đ ng ý xác định ranh giới đất với ông H, à N Thứ nhất là năm 2014, m ông là cụ Trần Thị T2 đ chết năm 2019) có nói là cho ông Hà Huy B là em của các ông) cũng được chia quyền sử dụng đất, do đó hai thửa đất của hộ ông Q và hộ ông H phải được chia cho a anh em Nhưng ông Q đ ỏ tiền mua đất cho ông B ở nơi khác th ông Q được hưởng phần đất của ông B Nay hai thửa đất này phải chia thành a phần, hộ ông Q được hưởng hai phần, hộ ông H được hưởng một phần mới đ ng Thứ hai là trước khi đi vào tỉnh Đắk Lắk, ông H, à N đ nói để lại cho ông Q đất, v vậy ông Q đ chi phí tiền h c ph thông và đại h c cho con gái của ông H, à N là cháu Hà Thị N1, sinh năm 1986), nay ông H, à N phải giao đất hoặc trả tiền cho ông Q Tuy vậy, ông Q và à M kh ng định hiện nay không có yêu cầu khởi kiện tranh chấp đất hoặc đòi nợ đối với ông H, à N.
Ý kiến của ông Hà Huy B: ng kh ng định chưa ao giờ nghe được ố m nói cho đất, ông Q và à M nói năm 2014 cụ T2 là m nói cho ông B đất là không đ ng ng B cũng không th a nhận đ được ông Q ỏ tiền mua đất cho ông, đất của ông B không liên quan đến ông Q. Ông B cũng kh ng định không có tranh chấp đất với ông Q và ông H.
Về kết quả m t, thẩm định thực tế:
Theo kết quả xem xét thẩm định ngày 25/3/2024, hiện trạng thửa đất số 1452 , tờ ản đ số 16, ản đ địa chính xã V v năm 2003, địa chỉ thôn X, xã V, huyện V, tỉnh T5: Phía ắc giáp đất hộ ông Hà Như Q, phía Nam giáp đường giao thông, phía Đông giáp đất hộ à Hà Thị Q1, phía Tây giáp đất hộ ông Trần Văn 1; trên đất có các công tr nh xây dựng g m 01 nhà 02 gian 01 chái, 01 móng nhà xây, 01 giếng nước, tường rào ao quanh thửa đất, một số cây không có giá trị lớn
Kết quả đo đạc theo dẫn mốc ranh giới của ông Hà Như Q và à Trần Thị M: Thửa đất có diện tích 647,5m².
Kết quả đo đạc theo dẫn mốc ranh giới của ông Hà Văn H và à Vũ Thị N: Thửa đất có diện tích 800,8m²;
Theo trích đo ản đ địa chính do UBND xã V: Thửa đất có diện tích 840,9m².
Có sơ đ kèm theo).
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 131/2024/HC-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh T5 đ áp dụng khoản 3, khoản 4 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; khoản 1 Điều 115; điểm a khoản 1 Điều 116; điểm , điểm c khoản 2 Điều 193; Điều 204; Điều 206; khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; khoản 4 Điều 49; điểm a, điểm g khoản 1 Điều 100; khoản 2 Điều 105 Luật Đất đai; Điều 36 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Điều 18, Điều 31 Luật Khiếu nại năm 2011; Luật T chức chính quyền địa phương; điểm c khoản 1 Điều 3, khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. ử: Chấp nhận toàn ộ yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn H và à Vũ Thị N, cụ thể:
1. Hủy các Văn ản trả lời số 1577/U -TNMT ngày 06/6/2023; Văn ản trả lời số 2277/U -TNMT ngày 03/8/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V về việc không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ à Vũ Thị N và ông Hà Văn H;
2 Tuyên ố hành vi không thực hiện nhiệm vụ công vụ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Hà Văn H và à Vũ Thị N là trái pháp luật;
3. Buộc Ủy ban nhân dân huyện V thực hiện nhiệm vụ công vụ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ à Vũ Thị N, ông Hà Văn H theo quy định của pháp luật đối với thửa đất số 1452 , tờ ản đ số 16, bản đ địa chính xã V v năm 2003; vị trí thửa đất: Thôn X, xã V, huyện V, tỉnh T5 Trên cơ sở dẫn mốc của ông Hà Văn H và bà Vũ Thị N, số liệu cụ thể theo kết quả đo đạc khi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/7/2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Hà Như Q có đơn kháng cáo đề nghị hủy Bản án sơ thẩm số 131/2024/HC-ST ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh T5.
Tại phiên tòa ph c thẩm, người khởi kiện là à Vũ Thị N gi nguyên yêu cầu khởi kiện; người ị kiện là U N huyện V, Chủ tịch U N huyện V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V, tỉnh T5 đ có văn ản xin vắng mặt, UBND xã V và bà Trần Thị M đ được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do; ông Hà Như Q gi nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án cấp ph c thẩm hủy ản án sơ thẩm
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm: Sau khi xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có tại h sơ vụ án thì thấy Tòa án nhân dân tỉnh T5 đ xử chấp toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn H và à Vũ Thị N là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Hà Như Q kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu gì mới để bảo vệ cho quan điểm của mình nên không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo. Tuy nhiên, tại phần quyết định của bản án sơ thẩm tuyên “ uộc UBND huyện V thực hiện nhiệm vụ công vụ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Vũ Thị N, ông Hà Văn H theo quy định pháp luật đối với thửa đất số 1452A, tờ bản đ số 16, bản đ địa chính xã V v năm 2003; vị trí thửa đất: Thôn X, xã V, huyện V, tỉnh T5. Trên cơ sở dẫn mốc của ông Hà Văn H và bà Vũ Thị N, số liệu cụ thể theo kết quả đo đạc khi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là không đ ng, cần phải sửa lại cách tuyên theo hướng buộc UBND huyện V thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định pháp luật Đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính 2015, không chấp nhận kháng cáo của ông Hà Như Q và sửa cách tuyên tại mục 3 quyết định của bản án hành chính sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án đ được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội; Hội đ ng xét xử ph c thẩm xét thấy:
. Về tố tụng:
. Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện ông Hà Văn H vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền; người bị kiện là UBND và Chủ tịch UBND huyện V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V đ có văn ản xin xét xử vắng mặt; UBND xã V và bà Trần Thị M đ được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan Căn cứ Điều 225 Luật Tố tụng hành chính, Hội đ ng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự nêu trên.
[1 2] Về thời hạn và thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Như Q gửi đến Tòa án đảm bảo đ ng thời hạn, hình thức, nội dung, phù hợp với quy định tại các Điều 204, 205 và 206 Luật Tố tụng hành chính nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục ph c thẩm
. Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2023 và đơn sửa đ i, b sung nội dung khởi kiện đề ngày 01/11/2023, ông Hà Văn H và bà Vũ Thị N đề nghị Tòa án hủy Văn ản trả lời số 1577/UB-TNMT ngày 06/6/2023, Văn ản trả lời số 2277/UB-TNMT ngày 03/8/2023 của UBND huyện V và buộc UBND huyện V phải phối hợp với cơ quan đăng ký đất đai thực hiện làm thủ tục và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Hà Văn H, bà Vũ Thị N do bà Vũ Nhị N2 đứng tên tại vị trí thửa đất số 1452A, tờ bản đ số 16 địa chính x đo v năm 2003
Các văn ản nêu trên của UBND huyện V và việc không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện V là quyết định hành chính và hành vi hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện nên là đối tượng khởi kiện vụ án theo quy định tại Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Tòa án nhân dân tỉnh T5 thụ lý, giải quyết và xác định còn trong thời hiệu khởi kiện là đảm bảo đ ng quy định tại khoản 1 Điều 30, Điều 32, Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
. Về nội dung: Xét nội dung kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hà Như Q, Hội đ ng xét xử phúc thẩm thấy:
. Về trình tự, thẩm quyền an hành Văn ản trả lời số 1577/UB-TNMT ngày 06/6/2023 và Văn ản trả lời số 2277/UB-TNMT ngày 03/8/2023 của Ủy ban nhân dân huyện V: Văn ản trả lời số 1577/U -TNMT ngày 06/6/2023 và Văn ản số 2277/U -TNMT ngày 03/8/2023 của Chủ tịch UBND huyện V về việc trả lời không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, à N2 được an hành tuy không đ ng về h nh thức quyết định, nhưng đ ng về thẩm quyền, tr nh tự, thủ tục giải quyết
. Về ngu n gốc và quá tr nh sử dụng đất của gia đ nh ông Hà Văn H, à Vũ Thị N:
Thửa đất của hộ ông H, bà N yêu cầu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa đất của ông Hà Văn V2, bà Trần Thị T2 (là bố, m đẻ ông H) chia tách thành 02 thửa cho ông Hà Văn H và em trai là ông Hà Như Q. Ngày 25/5/1994, ông H được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0024218, số vào s 1180, diện tích 736m trong đó: đất ở 200m , đất chuyên canh lúa 536m²), vị trí thửa đất số 469, tờ bản đ số 09, bản đ 299 xã V.
Ngày 12/5/2003, ông H được cấp đ i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 119030, số vào s 1281/QS Đ/432/QĐ-CT, vị trí thửa đất số 1452A, tờ bản đ số 16, diện tích 841m trong đó đất ở 200m , đất chuyên canh lúa 641m²). Tuy nhiên, khi lập h sơ địa chính sau đo đạc bản đ năm 2002 đ có sự nhầm lẫn dẫn đến việc đăng ký sai số thửa đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sai đối tượng sử dụng đất. Cụ thể, thửa đất của hộ ông Hà Văn H đ đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hà Như Q và ngược lại. Quá trình sử dụng đất, hai gia đ nh không thực hiện thủ tục tặng cho, chuyển nhượng hay chuyển đ i quyền sử dụng đất cho bất kỳ ai. Hiện nay, trong h sơ địa chính cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đ ng với hiện trạng sử dụng đất t trước đến nay của hai gia đ nh
. Ngày 11/4/2023, UBND huyện V đ an hành Quyết định số 994/QĐ-UBND về việc thu h i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đ cấp cho hộ bà Trần Thị M (Quyến) và Quyết định số 995/QĐ-UBND về việc thu h i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà và tài sản gắn liền với đất đ cấp cho hộ bà Vũ Thị N với lý do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đ cấp không đ ng diện tích, ranh giới thửa đất và giao cho Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V thực hiện việc thu h i và quản lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đ thu h i; cập nhật, chỉnh lý biến động vào h sơ địa chính theo quy định; hướng dẫn chủ sử dụng đất hoàn thiện các h sơ, thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp đ i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định là đ ng quy định pháp luật.
Sau khi nhận được Quyết định thu h i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà N nhiều lần có đơn đề nghị UBND huyện V cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà. Tuy nhiên, tại Văn ản số 1577/UB-TNMT ngày 06/6/2023 và Văn ản số 2277/UB-TNMT ngày 03/8/2023, UBND huyện V cho r ng ranh giới thửa đất của ông H, bà N với đất của ông Hà Như Q và bà Trần Thị M chưa được phân định, ông Q và bà M không thống nhất xác định ranh giới đất với ông H và bà N nên không đo đạc, chỉnh lý được là không đ ng quy định và hiện trạng thửa đất ông H, bà N đang sử dụng Vị trí, diện tích thửa đất của ông H, à N đ được xác định tại ản đ cũng như h sơ địa chính và đ qua hai lần cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đặc iệt là lần cấp đ i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003 đ xác định được h nh dạng và kích thước thửa đất, chỉ là sai số thửa nên ị thu h i Nay chỉ cần xác định đ ng hộ sử dụng đất, đ ng số thửa để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đ ng với đối tượng sử dụng đất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về ranh giới như sau: Ranh giới đất gi a các thửa đất liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và điểm 1.2 khoản 1 Điều 11 Thông tư 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T3 quy định: “Trường hợp không có tranh chấp: Ranh giới được ác định theo hiện trạng đang sử dụng, quản lý; Trường hợp đang có tranh chấp về ranh giới:... Nếu không thể ác định được ranh giới thực tế đang sử dụng, quản lý thì được ph p đo vẽ khoanh bao các thửa đất tranh chấp” Như vậy, trong trường hợp này Ủy ban nhân dân huyện V và các cơ quan liên quan phải có trách nhiệm đo đạc xác định ranh giới, h nh dạng, kích thước thửa đất hộ ông H, à N.
[2 4] Đối với nội dung kết luận của UBND huyện V cho r ng đất của ông H, à N không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 102 Luật Đất đai đất không có giấy tờ theo Điều 100 Luật Đất đai) là không đ ng với thực tế Đất của ông H, à N được tách thửa và ghi tên chủ hộ sử dụng t nh ng năm 1980 đến nay thuộc các trường hợp có giấy tờ theo quy định tại điểm a và điểm g khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai, do đó có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
. T các phân tích nêu trên, xét thấy nội dung Văn ản trả lời số 1577/U -TNMT ngày 06/6/2023 và Văn ản số 2277/U -TNMT ngày 03/8/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V về việc không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, à N với các lý do đất đang có tranh chấp ranh giới, chưa có h nh dạng và kích thước, không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có căn cứ, không đ ng với thực tế sử dụng đất. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đ tuyên hủy Văn ản trả lời số 1577/UB- TNMT ngày 06/6/2023 và Văn ản số 2277/U -TNMT ngày 03/8/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V để Ủy ban nhân dân huyện V tiến hành thực hiện các thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông H, à N là có căn cứ, đ ng quy định pháp luật.
Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/7/2024 UBND huyện V đ an hành Văn ản số 2663/UBND-TNMT về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng theo Bản án của Tòa án nhân dân tỉnh T5; trong đó có nội dung:
1. Giao UBND xã V chủ trì, phối hợp với Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện V hướng dẫn hộ bà Vũ Thị N và ông Hà Văn H hoàn thiện h sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1452A, tờ bản đ số 16, bản đ địa chính xã V v năm 2002; vị trí thửa đất tại thôn Á, xã V trên cơ sở dẫn mốc của bà Vũ Thị N và ông Hà Văn H, tr nh cơ quan có thẩm quyền phê duyệt cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
2 Văn ản này thay thế cho các Văn ản số 1577/UBND-TNMT ngày 06/6/2023 và Văn ản số 2277/UBND-TNMT ngày 03/8/2023 của UBND huyện V.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 57 Luật Tố tụng hành chính thì trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, người bị kiện có quyền sửa đ i quyết định hành chính. Do vậy, việc Chủ tịch UBND huyện V an hành Văn ản số 2663/UBND-TNMT ngày 23/7/2024 thay thế cho các Văn ản số 1577/UBND-TNMT ngày 06/6/2023 và Văn ản số 2277/UBND-TNMT ngày 03/8/2023 của Chủ tịch UBND huyện V là phù hợp quy định pháp luật.
. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm ông Hà Như Q, à Trần Thị M cho r ng ông Q và ông H đều được ố m cho đất tách hộ ở cạnh nhau t nh ng năm 1980 Gi a hai hộ tự ước lượng diện tích đất sử dụng và gi khoảng cách với nhau; ông Q, à M th a nhận quyền sử dụng đất của ông H, à N đ được ố m cho nhưng ông cũng đ ỏ tiền mua đất cho ông B ở ch khác và phần đất của ông B là của ông; đ ng thời năm 1995 ông H, bà N đ để lại đất cho gia đ nh ông nên ông không ký xác nhận ranh giới như ông H, bà N chỉ dẫn. Xét thấy, nội dung này của ông Q, bà M không liên quan đến việc giải quyết vụ án hành chính, trường hợp các đương sự không thỏa thuận, thống nhất được với nhau th có thể khởi kiện vụ án khác khi có yêu cầu.
. T nh ng phân tích, nhận định nêu trên, Hội đ ng xét xử nhận thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đ xem xét đầy đủ các tài liệu có trong h sơ vụ án và quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ, đ ng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Văn Q2 không xuất tr nh được tài liệu gì mới để bảo vệ cho nội dung kháng cáo của m nh nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Q2. Tuy nhiên, tại phần quyết định của bản án sơ thẩm tuyên “Buộc Ủy ban nhân dân huyện V thực hiện nhiệm vụ công vụ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ à Vũ Thị N, ông Hà Văn H theo quy định của pháp luật đối với thửa đất số 1452 , tờ ản đ số 16, ản đ địa chính xã V v năm 2003; vị trí thửa đất: Thôn X, xã V, huyện V, tỉnh T5 Trên cơ sở dẫn mốc của ông Hà Văn H và bà Vũ Thị N, số liệu cụ thể theo kết quả đo đạc khi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là vượt quá thẩm quyền theo quy định tại Điều 193 Luật Tố tụng hành chính o đó, Hội đ ng xét xử đ ng tình với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, không chấp nhận kháng cáo của ông Hà Như Q và sửa lại cách tuyên của bản án án sơ thẩm cho chính xác.
. Về án phí: o kháng cáo không được chấp nhận nên ông Hà Như Q phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên, ông Hà Như Q là người cao tu i và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.
Và các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy an Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. ác kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hà Như Q; sửa ản án hành chính sơ thẩm số 131/2024/HC-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh T5 Cụ thể như sau:
Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; khoản 1 Điều 115; điểm a khoản 1 Điều 116; điểm , điểm c khoản 2 Điều 193; Điều 204; Điều 206; khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 4 Điều 49; điểm a điểm g khoản 1 Điều 100, khoản 2 Điều 105 của Luật Đất đai; Điều 36 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Điều 18, Điều 31 Luật khiếu nại năm 2011; Luật T chức chính quyền địa phương; điểm c khoản 1 Điều 3, khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
ử: Chấp nhận toàn ộ yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn H và à Vũ Thị N, cụ thể:
- Hủy các Văn ản trả lời số 1577/U -TNMT ngày 06/6/2023 và Văn ản trả lời số 2277/U -TNMT ngày 03/8/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V về việc không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ à Vũ Thị N và ông Hà Văn H;
- Tuyên ố hành vi không thực hiện nhiệm vụ công vụ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Hà Văn H và à Vũ Thị N là trái pháp luật;
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh T5 phải thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định pháp luật.
2. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: Ủy an nhân dân huyện V phải chịu 300 000 đ ng án phí hành chính sơ thẩm
- Án phí ph c thẩm: ng Hà Như Q được miễn án phí hành chính ph c thẩm
3. Các quyết định khác của ản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, không ị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
ản án hành chính ph c thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên án
* Nơi nhận:
| - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh T5; - VKSND tỉnh T5; - Cục THADS tỉnh T5; - Các đương sự theo địa chỉ); - Lưu h sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Thị Bích Hải |