vanban.org

Bản án 645/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc D về việc “Ly hôn”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc D được ly hôn với ông Phạm Anh T. 2 Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Tú N, sinh ngày 24/4/2012 và Phạm Nhật T1, sinh ngày 10/5/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa bà D và ông T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc D về việc “Ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 645/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20/7/2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phước Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thanh Hải

2. Ông Đặng Khắc Di

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang- Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Ngọc- Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/6/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc D, sinh năm 1983; địa chỉ: Đường H, Phường 6, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Phạm Anh Tú, sinh năm 1984; địa chỉ: Đường H, Phường 6, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 20/12/2022, nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc D trình bày:

Bà Lê Thị Ngọc D và ông Phạm Anh T tự nguyện tìm hiểu, tổ chức cưới, chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 76, Quyển số 01/2009 ngày 24/4/2009.

Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông T tính tình gia trưởng, thường hay nhậu nhẹt, chửi bới vợ con và không quan tâm đến gia đình. Bà D đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn khả năng hàn gắn, yêu cầu được ly hôn ông T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Tú N, sinh ngày 24/4/2012 và Phạm Nhật T1, sinh ngày 10/5/2016, cả hai cháu đang sống cùng mẹ. Bà D yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 đến tuổi thành niên, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Phạm Anh T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc D vẫn giữ yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn với ông T và giao con chưa thành niên cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng.

Bị đơn ông Phạm Anh T, ngày 04/7/2023 theo dấu công văn đến của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, gửi đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 30/6/2023 trình bày: Ông T xác định giữa ông và bà D không còn tình cảm vợ chồng, không còn khả năng hành gắn nên bà D yêu cầu ly hôn thì ông cũng đồng ý, ông T đồng ý giao cả hai con chung cho bà D nuôi dưỡng, giữa ông và bà D không có tài sản chung hay nợ ai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến: Về tố tụng, quá trình thụ lý giải quyết, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đều đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến ngày xét xử, Tòa án đã vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự; về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ xác nhận của Công an Phường S, quận Tân Bình ngày 26/10/2022, thì bà Lê Thị Ngọc D và 04 nhân khẩu kèm theo, có bị đơn ông Phạm Anh T, thực tế cư trú tại Đường H, Phường S, quận Tân Bình. Bà D khởi kiện yêu cầu xin ly hôn ông T có nơi cư trú tại quận Tân Bình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 76, Quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/4/2009, quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Ngọc D và ông Phạm Anh T là hợp pháp.

Xét thấy, vợ chồng phải có trách nhiệm quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau nhằm tạo dựng hạnh phúc gia đình nhưng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà D và ông T phát sinh mâu thuẫn mà theo bà D trình bày là do ông T thiếu trách nhiệm với gia đình, không quan tâm đến vợ con, từ đó dẫn đến quan hệ vợ chồng không hạnh phúc. Bà D xác định không còn tình cảm với ông Tú, không còn khả năng hàn gắn quan hệ vợ chồng, yêu cầu xin được ly hôn.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn trình bày không còn tình cảm vợ chồng với bà D, nguyện vọng cũng muốn ly hôn với bà D. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng đoàn tụ, nên chấm dứt quan hệ hôn nhân của các đương sự theo yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp với pháp luật và thực tế để các bên ổn định đời sống.

Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Tú N, sinh ngày 24/4/2012 và Phạm Nhật T1, sinh ngày 10/5/2016; cả hai đang sống với bà D. Bà D yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cả hai không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, ông T cũng đồng ý giao 02 con chung cho bà D nuôi dưỡng, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở giao cả hai con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông Tú.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Theo khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc D về việc “Ly hôn”.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc D được ly hôn với ông Phạm Anh T.

1.2 Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Tú N, sinh ngày 24/4/2012 và Phạm Nhật T1, sinh ngày 10/5/2016.

+ Ông T có trách nhiệm giao cả 02 trẻ tên Phạm Tú N và Phạm Nhật T1 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng.

+ Tạm hoãn nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung cho ông T do bà D không có yêu cầu.

+ Bà D có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho ông T đến thăm con chung.

+ Vì lợi ích của con chưa thành niên, việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.

1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có, Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0008579 ngày 04/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. Đương sự đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết bản án.

5. Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị trong thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ