- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn L phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi…"
- Tòa quyết gì? I. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 134 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 645/2021/HS-PT Ngày 04/10/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phong;
Thẩm phán: Ông Mai Văn Quang, ông Hoàng Văng Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tưởng Thị Huyền, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Đồng, Kiểm sát viên.
Ngày 04/10/2021, tại Trụ sở Tòa án Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 522/2021/TLPT-HS ngày 28/6/2021; Do có kháng cáo của bị cáo Đặng Văn L, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2021/HSST ngày 17/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo: Đặng Văn L, sinh năm 1982; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT: Thôn M, xã H, huyện H, Thành phố Hà Nội; Học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đặng Văn L và con bà Nghiêm Thị N; Anh chị em ruột: 04 người, bị cáo là thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị T; Có 03 con, lớn sinh năm 2004 và nhỏ sinh năm 2012; Tiền sự: Không; Có 01 tiền án: Ngày 25/4/2019, bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
Người tham gia tố tụng là những bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị (Không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau:
Bị cáo Đặng Văn L và gia đình anh Hoàng Văn B, chị Lê Thị C có mâu thuẫn, nên khoảng 18 giờ ngày 03/12/2020, bị cáo Đặng Văn L đã dùng gậy gỗ dài khoảng 60cm, gậy vuông 2x2cm vụt nhiều phát trúng vào đầu, tay trái và mặt anh Hoàng Văn B làm gẫy mất một phần gậy; Sau đó, bị cáo L tiếp tục dùng đoạn gậy trên vụt một phát trúng vào khuỷu tay trái của chị Lê Thị C, khiến anh B và chị C mỗi người bị tổn hại 07% sức khỏe.
Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số: 9311/C09-TT1 ngày 28/12/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an đối với Lê Thị C, kết luận:
“1. Kết quả chính: Căn cứ vào kết quả nghiên cứu hồ sơ, khám giám định, khám chuyên khoa và các xét nghiệm, xác định chị Lê Thị C bị thương khuỷu tay trái, gãy đầu xương trụ cẳng tay trái, đã điều trị. Hiện tại để lại: sẹo mỏm khuỷu tay trái, kích thước nhỏ; gãy đầu trên thân xương trụ cẳng tay trái, can liền tốt, thẳng trục, chức năng cẳng tay không bị ảnh hưởng.
2. Kết luận:
2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể:
Đối chiếu với Bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của các thương tích như sau:
- Sẹo mỏm khuỷu tay trái: 01% (Nguyên tắc 1 và Mục I.1, Chương 8).
- Gãy đầu trên thân xương trụ cẳng tay trái, can liền tốt, thẳng trục, chức năng cẳng tay không bị ảnh hưởng: 06% (Mục IV.10.1, Chương 7).
Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số: 22/2019/TT-BYT, ngày 22/8/2019 của Bộ y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Lê Thị C tại thời điểm giám định là: 07% (bảy phần trăm).
2.2. Cơ chế hình thành thương tích. Tổn thương vùng khuỷu tay trái của chị Lê Thị C do vật tày gây ra”.
Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số: 9310/C09-TT1 ngày 31/12/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an đối với Hoàng Văn B, kết luận:
“1. Kết quả chính: Căn cứ vào kết quả nghiên cứu hồ sơ, khám giám định, khám chuyên khoa và các xét nghiệm, xác định anh Hoàng Văn B bị đã chấn thương, đã được điều trị. Hiện tại để lại:
- Sẹo vùng đỉnh - thái dương phải, không ảnh hưởng chức năng.
- Sẹo vùng đỉnh trái, không ảnh hưởng chức năng.
- Sẹo vùng đỉnh - chẩm trái, không ảnh hưởng chức năng.
- Sẹo vùng đuôi mắt - gò má phải, không ảnh hưởng chức năng.
- Vùng cẳng tay tái không còn dấu vết thương tích, không ảnh hưởng chức năng.
2. Kết luận:
2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể:
Đối chiếu với Bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của các thương tích như sau:
- Sẹo vùng đỉnh - thái dương phải, kích thước nhỏ: 01% (Nguyên tắc 1 và Mục I.1, Chương 8).
- Sẹo vùng đỉnh trái, kích thước trung bình: 02% (Nguyên tắc 1 và Mục I.2, Chương 8).
- Sẹo vùng đỉnh - chẩm trái, kích thước nhỏ: 01% (Nguyên tắc 1 và Mục I.1, Chương 8).
- Sẹo vùng đuôi mắt - gò má phải, kích thước nhỏ: 03% (Nguyên tắc 1,2 và Mục I.1, Chương 8).
Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 22/8/2019 của Bộ y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Hoàng Văn B tại thời điểm giám định là: 07% (bảy phần trăm).
* Cơ chế hình thành thương tích:
- Tổn thương vùng đỉnh - thái dương phải, đỉnh - chẩm trái, đỉnh trái, đuôi mắt - gò má phải do vật có cạnh gây ra.
- Do vùng cẳng tay trái không còn dấu vết thương tích nên không có cơ sở xác định cơ chế hình thành thương tích”.
Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số: 9309/C09-TT1 ngày 29/12/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an đối với Hoàng Xuân G, kết luận:
“1. Kết quả chính: Căn cứ vào kết quả nghiên cứu hồ sơ, khám giám định, khám chuyên khoa và các xét nghiệm, xác định cháu Hoàng Xuân G bị sưng nề phần mềm vùng đỉnh trái, đã được điều trị. Hiện tại vùng đỉnh trái không còn để lại dấu vết thương tích.
2. Kết luận:
2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể:
Đối chiếu với Bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với cháu Hoàng Xuân G tại thời điểm giám định là: 0% (không phần trăm).
Cơ chế hình thành thương tích: Vùng đỉnh trái không còn dấu vết thương tích nên không có cơ sở xác định cơ chế hình thành thương tích”.
Ngày 17/12/2020, Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đã ra Quyết định trưng cầu giám định dấu vết sinh học số 05 trên các đồ vật thu giữ và mẫu máu thu giữ của Đặng Văn L, Hoàng Văn B và Lê Thị C.
Tại bản kết luận giám định số: 577/PC09-SH ngày 15/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:
“- Mẫu máu thu của Đặng Văn L, SN 1982, thuộc nhóm máu O.
- Mẫu máu thu của Hoàng Văn B, SN 1974, thuộc nhóm máu A.
- Mẫu máu thu của Lê Thị C, SN 1976, thuộc nhóm máu O.
- Trên đoạn gậy gỗ màu nâu dài 53,3cm, tiết diện vuông (2x2)cm. Một đầu có vết gãy mới có dính máu người, thuộc nhóm máu A.
- Trên đoạn gậy tre khô, màu nâu dài 67cm, đường kính 3,5cm có dính máu người, do lượng dấu vết ít nên không xác định được nhóm máu.
- Không phát hiện dấu vết máu trên đoạn gậy sắt hộp đã cũ gỉ, màu nâu dài 63,5cm, rộng 4cm, dày 2cm.
- Trên quần vải màu xám mặt trong cạp quần gắn mác in chữ ninomaxx, mặt ngoài quần nhiều chỗ bám bẩn có dính máu người, thuộc nhóm máu A.
- Trên áo khoác màu nâu, lớp vải phái trong màu đen, cổ trắng gắn mác in chữ made in Việt Nam có dính máu người, thuộc nhóm máu A.
- Dấu vết máu thu tại hiện trường là máu người, do lượng dấu vết ít nên không xác định được nhóm máu”.
Về trách nhiệm dân sự: Hoàng Văn B yêu cầu Đặng Văn L phải bồi thường tổng số 190.316.000 đồng. Lê Thị C yêu cầu Đặng Văn L phải bồi thường tổng số tiền 187.857.000 đồng. Hoàng Xuân G và người đại điện theo ủy quyền là ông Lê Văn H, sinh năm 1965, trú tại thôn T, xã H, huyện H yêu cầu Đặng Văn L phải bồi thường tổng số tiền 65.020.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 24/CT-VKS ngày 14/04/2021 của Viện kiểm sát
nhân dân Huyện H đã truy tố bị cáo về tội: Cố ý gây thương tích”, theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2021/HSST ngày 17/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hà Nội quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Đặng Văn L 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra Bản án còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 18/5/2021 bị cáo Đặng Văn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo trình bày: Bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp nốt số tiền bồi thường cho những người bị hại tại Chi cục Thi hành án huyện H, mức án sơ thẩm xử bị cáo là quá nặng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định, nên đề nghị chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.
Ghi nhận bị cáo bị cáo Đặng Văn L đã nộp 20.000.000đ tại biên lai số 0043761 ngày 12/5/2021 và số tiền 19.806.000đ theo biên lai số: 0043787 ngày 12/7/2021 để bồi thường cho bị hại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H, Thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về tội danh:
Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Đặng Văn L và gia đình anh Hoàng Văn B, chị Lê Thị C có mâu thuẫn, nên khoảng 18 giờ ngày 03/12/2020, bị cáo Đặng Văn L đã dùng gậy gỗ dài khoảng 60cm, gậy vuông 2x2cm vụt nhiều phát trúng vào đầu, tay trái và mặt anh Hoàng Văn B làm gẫy mất một phần gậy; sau đó, bị cáo L tiếp tục dùng đoạn gậy trên vụt một phát trúng vào khuỷu tay trái của chị Lê Thị C, khiến anh B và chị C mỗi người bị tổn hại 07% sức khỏe.
Với hành vi trên, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đặng Văn L về tội " Cố ý gây thương tích" theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Về hình phạt:
Khi quyết định hình phạt, Tòa cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân, áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo 24 tháng tù là có phần nghiêm khắc.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình, được chính quyền địa phương xác nhận; Bị cáo Đặng Văn L đã nộp 20.000.000đ tại biên lai số 0043761 ngày 12/5/2021 và số tiền 19.806.000đ theo biên lai số: 0043787 ngày 12/7/2021 để bồi thường cho bị hại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H, Thành phố Hà Nội. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới tại phiên tòa phúc thẩm, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm cho bị cáo một phần hình phạt vẫn đảm bảo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
I. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn L.
II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2021/HSST ngày 17/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hà Nội.
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội "Cố ý gây thương tích".
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo:
Đặng Văn L 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xác nhận bị cáo Đặng Văn L đã nộp 20.000.000đ tại biên lai số 0043761 ngày 12/5/2021 và số tiền 19.806.000đ theo biên lai số: 0043787 ngày 12/7/2021 để bồi thường cho bị hại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
2. Các quyết định của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKS Tp Hà Nội; - Tòa án và VKS huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Công an huyện H; - Bị cáo, những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đăng Phong |