vanban.org

Bản án 643/2026/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/08/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/08/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đình Duy P, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2026/HS-ST ngày 11/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xử phạt bị cáo Lê Đình Duy P 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đình Duy P - Gây rối trật tự công cộng - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đình Duy P, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2026/HS-ST ngày 11/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 643/2026/HS-PT
Ngày: 14-08-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Uyên Thy.

Các Thẩm phán:

1. Ông Vũ Hoài Nam

2. Ông Lê Công Huân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Quang - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 08 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 605/2026/TLPT-HS ngày 17 tháng 7 năm 2026, đối với bị cáo Lê Đình Duy P, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2026/HS-ST ngày 11/06/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Đình Duy P; giới tính: Nam; sinh ngày 11/09/2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 322/10/17 C, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Căn hộ B Lô B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; con ông Lê Đình D, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Hồng P1, sinh năm 1980; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi trú từ ngày 19/12/2024, bị cáo tại ngoại (có mặt).

Ngoài ra còn có Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn từ trước, sau nhiều lần nhắn tin qua lại, đến khoảng 20 giờ ngày 06/10/2023, Hoàng Tuấn K và Lê Đình Duy P nhắn tin hẹn gặp nhau tai quán cà phê tại Cư xá ngân hàng, phường T, Quận G (nay là phường T) để giải quyết mâu thuẫn. Khi đi, P mang theo 01 cây dũ 03 khúc và gởi nhờ vào balo của N với mục đích nếu xảy ra đánh nhau thì sử dụng để đánh K. Đến quán cà phê G, P gọi điện thoại cho K. Trong lúc đang nghe điện thoại, P bị một người đạp vào lưng nên chạy về phía N đang đứng chờ. P lấy cây dũ 03 khúc ra cầm trên tay, quơ qua lại và đuổi đánh K nhưng không trúng, Sau đó làm phát sinh vụ đánh nhau giữa P và nhóm của K tại quán cà phê. Hậu quả, P bị nhóm của K đánh gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 36%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2026/HS-ST ngày 11/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử đã tuyên bố bị cáo Lê Đình Duy P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 02 năm tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Lê Đình Duy P trình bày bị cáo đã nộp đơn rút toàn bộ kháng cáo, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo thay đổi ý kiến, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi ý kiến, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo. Việc bị cáo thay đổi ý kiến kháng cáo là tự nguyện nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Lê Đình Duy P; mức hình phạt 02 (hai) năm tù là phù hợp, có căn cứ và đúng quy định pháp luật. Bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin hưởng án treo, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.

Bị cáo Lê Đình Duy P không có ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo tuổi trẻ, bồng bột, do thiếu suy nghĩ nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái và rất hối hận. Hiện nay bị cáo bị chấn thương não vẫn còn phải điều trị và bị cáo là lao động chính trong gia đình. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Đình Duy P làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo trình bày trước đây đã có đơn rút kháng cáo, nay bị cáo thay đổi ý kiến, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo. Xét việc thay đổi ý kiến của bị cáo là tự nguyện, không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận và xem xét kháng cáo của bị cáo theo quy định..

Căn cứ vào lời khai tại phiên tòa cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:

Do có mâu thuẫn từ trước với Hoàng Tuấn K, khoảng 20 giờ ngày 06/10/2023, bị cáo Lê Đình Duy P đến quán cà phê G tại số C đường A, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết mâu thuẫn. Khi đi, bị cáo mang theo 01 cây dũ 03 khúc. Khi gặp K, bị cáo lấy cây dũ ra quơ qua lại và đuổi đánh K nhưng không trúng, làm phát sinh vụ ẩu đả giữa bị cáo và nhóm của K tại quán cà phê. Hành vi của bị cáo đã gây náo loạn tại nơi công cộng, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, được Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận tại Công văn số 1814/CV-UBND ngày 26/10/2024.

Hành vi sử dụng cây dũ 03 khúc để đuổi đánh K của bị cáo thuộc trường hợp dùng vũ khí, hung khí. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Đình Duy P về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Lê Đình Duy P:

Hội đồng xét xử nhận thấy khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo trình bày bản thân bị chấn thương não, là lao động chính trong gia đình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy đây là những tình tiết cần được xem xét khi lượng hình. Tuy nhiên, bị cáo không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh để chứng minh cho các nội dung trình bày nêu trên. Mặt khác, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo đã mang theo cây dũ 03 khúc đến nơi công cộng để giải quyết mâu thuẫn, sử dụng hung khí đuổi đánh Hoàng Tuấn K, làm phát sinh vụ ẩu đả giữa nhiều người, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt 02 (hai) năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2026/HS-ST ngày 11/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đình Duy P.

Ngoài ra, tại phần Quyết định của bản án sơ thẩm, cấp sơ thẩm đã ghi: Tuyên bố bị cáo Lê Đình Duy P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, là chưa đúng với hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS về bản án sơ thẩm được ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19/9/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Tòa án cấp sơ thẩm cần lưu ý rút kinh nghiệm.

Lập luận trên là căn cứ để chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và không chấp nhận lời trình bày của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Lê Đình Duy P phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đình Duy P, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2026/HS-ST ngày 11/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025;

Xử phạt bị cáo Lê Đình Duy P 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Bị cáo Lê Đình Duy P phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ