- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn V - phạm tội chứa mại dâm (điều 254 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 254 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! ! ! Bản án số: 643/2017/HSPT Ngày: 14/12/2017 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!phúc!thẩm!gồm!có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà
Các thẩm phán:
1. Bà Huỳnh Thị Việt Tiên
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Phạm Thị Trúc Đào – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Diệp – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 582/2017/HSPT ngày 23 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo: Nguyễn Tuấn V do có đơn kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 136/2017/HSST ngày 13/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo kháng cáo:!Nguyễn!Tuấn!V; Giới tính: Nam; sinh năm 1998 tại Cà Mau; Nơi đăng ký thường trú: Ấp Phú L, xã Phú Đ, huyện Châu T, tỉnh Bến Tre; chỗ ở: đường Lê Hồng P, Phường Y, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 8/12; con ông: Nguyễn Văn T; Con bà: Võ Thị Thanh T; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giam: 03/3/2017. (Có mặt) !
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không triệu tập.
!
NHẬN!THẤY!
!
Theo bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân B và bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận X thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 40 ngày 03/3/2017, tại tiệm hớt tóc “Kim N” – địa chỉ: đường Lê Hồng P, Phường Y, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an Quận X kết hợp cùng Công an Phường Y, Quận X tiến hành kiểm tra và bắt quả tang tại 03 phòng (trong tiệm hớt tóc “Kim N”) có 03 cặp nam nữ thực hiện hành vi mua bán dâm, cụ thể như sau: Phòng 2, lầu 1: Gái bán dâm Phạm Thị P đang chuẩn bị bán dâm cho Phạm Văn Tr với giá 1.300.000 đồng; Phòng 3, lầu 2: Gái bán dâm Phan Bùi Băng T1 đang thực hiện hành vi bán dâm cho Nguyễn Hào Tiến M với giá 1.300.000 đồng, thu giữ 01 bao cao su đã qua sử dụng; Phòng 4, lầu 2: Gái bán dâm Bạch Thị Sơn V1 đang thực hiện hành vi bán dâm cho Nguyễn Văn Tú với giá 1.300.000 đồng, thu giữ 01 bao cao su đã qua sử dụng; lực lượng Công an đã tiến hành tạm giữ các đối tượng trên, ngoài ra còn tạm giữ: Nguyễn Tuấn V (quản lý tại tiệm hớt tóc) và thu giữ: 19.400.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus; Lê Hoàng S (thợ hớt tóc tại tiệm, đang ở dưới tầng trệt) và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 6300; cùng với các nhân viên khác (Huỳnh Minh K và có tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 105, Trà Văn Tuấn và có tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6, Trần Thị Thảo S1 và có tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia – C1); vụ việc được Công an Phường Y, Quận X lập hồ sơ ban đầu; sau đó chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X điều tra, làm rõ. Qua quá trình điều tra, xác định như sau: Tiệm hớt tóc “Kim N” do Trần Thị Thùy T2 (sinh năm 1984, HKTT: Nguyễn Trung T, thị trấn Vĩnh B, huyện Gò Công T, Tiền Giang) đứng tên trên giấy phép kinh doanh với ngành nghề hớt tóc nam (khi bắt quả tang, T2 không có mặt tại đây). Từ tháng 4/2016, đối tượng tên M1 (không rõ nhân thân, địa chỉ) là người trực tiếp quản lý tiệm hớt tóc “Kim N”, ngoài ra M1 thuê Lê Hoàng S làm thợ hớt tóc và phụ giúp M1 quản lý tiệm khi My không có ở tiệm với mức lương 10.000.000đ/tháng. Từ tháng 9/2016, M1 và T2 (không rõ nhân thân, địa chỉ) giao cho Nguyễn Tuấn V làm quản lý, Sơn không còn làm quản lý mà chỉ có nhiệm vụ hớt tóc và ngồi ở dưới tầng trệt. Lúc này, T2 nói cho V biết khi khách có yêu cầu thì nhân viên sẽ kích dục cho khách với giá 300.000 đồng/lần (số tiền này đưa cho tiệm, tiền bo của khách thì nhân viên giữ); nếu bán dâm thì giá 1.300.000 đồng (nhân viên đưa cho tiệm 500.000 đồng, còn giữ lại 800.000 đồng). Hằng ngày V có nhiệm vụ sắp xếp cho nhân viên nữ bán dâm hoặc kích dục cho khách, ghi sổ các lần bán dâm hoặc kích dục, thu tiền của các nhân viên và cuối ngày tổng kết số tiền thu được giao lại cho M1 (đến ngày bị bắt, V được M1 cho 1.000.000 đồng, ngoài ra chưa lĩnh lương). Khoảng 10 giờ 00 ngày 03/3/2017, Vũ lấy sổ ra sắp xếp cho nhân viên nữ bán dâm hoặc kích dục theo thứ tự. Đến khoảng 13 giờ 00 cùng ngày, khi V đang quản lý trong tiệm thì lần lượt có 03 khách nam là Phạm Văn Tr, Nguyễn Hào Tiến M, Nguyễn Văn T3 đến hỏi mua dâm; V lần lượt điều 03 nhân viên là Phạm Thị P bán dâm cho Phạm Văn T, Bạch Thị Sơn V1 bán dâm cho Nguyễn Văn T3, Phan Bùi Băng T1 bán dâm cho Nguyễn Hào Tiến M; khi các cặp nam nữ trên đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị bắt như đã nêu trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X đã quyết định khởi tố đối với Nguyễn Tuấn V về hành vi “Chứa mại dâm”. Đối với khách mua dâm là Phạm Văn Tr, Nguyễn Hào Tiến M, Nguyễn Văn T3; gái bán dâm là Phạm Thị P, Phan Bùi Băng T1, Bạch Thị Sơn V1 có hành vi mua bán dâm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X xử phạt hành chính là có cơ sở.
Đối với Trần Thị Thùy T2 (sinh năm 1984, HKTT: Nguyễn Trung T, thị trấn Vĩnh B, huyện Gò Công T, Tiền Giang) đứng tên trên giấy phép kinh doanh tiệm hớt tóc “Kim N”, qua xác minh thì hiện tại không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X tiến hành thu thập bản ảnh của T2 để S và V nhận dạng, nhưng đều xác định không phải hình ảnh Trang đứng tên giấy đăng ký kinh doanh; đối với đối tượng tên M1 (không rõ lai lịch), qua kiểm tra điện thoại của S và một số nhân viên tiệm hớt tóc “Kim N” có số điện thoại M1 đã nhắn tin với Sơn và nhân viên, qua xác minh người đứng tên số thuê bao là Trà Thị Đ, theo S và V cũng như Trà Thị Đ xác nhận Trà Thị Đ không phải là đối tượng M1; chị Đ là nhân viên của tiệm “Kim N” và chị Đ không biết ai sử dụng thông tin mình đăng ký số thuê bao trên; do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X tiếp tục truy xét các đối tượng Trần Thị Thùy T2, đối tượng My, khi nào bắt được, làm rõ, xử lý sau.
Đối với Huỳnh Minh K (nhân viên giữ xe), Trà Văn T4 (nhân viên tạp vụ), Trần Thị Thảo S1 (phụ bếp) cũng như các nhân viên khác: khai không biết chủ tiệm hớt tóc Kim N là ai, không biết anh V (làm quản lý tiệm hớt tóc Kim N ngồi ở tầng lửng) có chủ trương cho nhân viên bán dâm, riêng K chỉ nghe thông tin là nhân viên có bán dâm cho khách nhưng cụ thể như thế nào thì không biết, còn anh S làm nhiệm vụ hớt tóc cho khách và nằm tại tầng trệt, không biết ở tầng trên có hoạt động mua bán dâm hay không; cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X đã thông báo tương ứng đến Công an địa phương nơi cư trú để phục vụ công tác quản lý đối tượng tại địa phương; đồng thời có một số nhân viên có gặp người phụ nữ tên M1, nhưng chỉ gặp trong thời gian ngắn nên không thể nhận dạng được đối tượng M1.
Đối với bà Nguyễn Thị Th (là chủ căn nhà trên đường Lê Hồng P, Phường Y, Quận X ), ký hợp đồng thuê nhà với Trần Thị Thảo S1 (qua xác minh hiện đã bỏ đi khỏi nơi cư trú); không biết việc mua bán dâm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X không xử lý là có cơ sở.
Đối với Lê Hoàng S (thợ hớt tóc) khai nhận là trước đây khi vào tiệm làm thợ hớt tóc thì có M1 làm quản lý, thỉnh thoảng M1 có công việc ra ngoài thì nhờ S đứng quầy thu tiền, còn tiệm vẫn hoạt động dưới sự điều hành của đối tượng M1 và T2, đồng thời M1 có trực tiếp nói với S về việc tiệm hớt tóc có nhân viên thực hiện hành vi mua bán dâm tại tiệm, nhưng S không trực tiếp nói và nhận nhân viên vào làm việc, sau đó V làm quản lý thì S không biết ở tầng trên của tiệm còn hoạt động mua bán dâm nữa hay không; về phía nhân viên và gái bán dâm xác định S chỉ là nhiệm vụ hớt tóc cho khách (nằm ở tầng trệt) khi khách nhu cầu hớt tóc thì xuống tầng trệt gặp S, còn V làm quản lý: sắp xếp nhân viên và thu tiền bán dâm từ nhân viên; từ đó xác định tại thời điểm hiện tại, chỉ có lời khai nhận của S thì chưa đủ chứng cứ xem xét xử lý S có hay không hành vi “Chứa mại dâm”, đồng thời hiện chưa truy bắt được các đối tượng M1 và T2; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X chưa xem xét xử lý về hành vi “Chứa mại dâm” đối với S; do vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X tiếp tục truy xét, làm rõ hành vi của đối tượng M1 và T2, cũng như Trần Thị Thảo S1, đồng thời củng cố chứng cứ xem xét xử lý sau cùng với các nhân viên Huỳnh Minh K, Trà Văn T4, Lê Hoàng S. Đối với 19.400.000 đồng, qua điều tra xác định là của Đỗ Thị Ngọc P2 (bạn gái V) nhờ giữ giùm; nên Công an Quận X đã giao trả lại cho bà Ph2. Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia – C1 (tạm giữ từ Trần Thị Thảo S1); qua điều tra xác định tài sản của S1; nên Công an Quận X đã giao trả lại cho S1. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 136/2017/HSST ngày 13/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh đã Quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn V phạm tội “Chứa mại dâm”. Áp dụng điểm c khoản 2, 5 Điều 254; điểm p, e khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 3 Điều 7; khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) [điều khoản có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015(được sửa đổi, bổ sung năm 2017)] đối với bị cáo Nguyễn Tuấn V; Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn V 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính ngày 03/3/2017. Phạt bổ sung bị cáo V 5.000.000 (năm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước. Ngoài ra còn buộc bị cáo phải nộp lại tiền thu lợi bất chính, nộp án phí, tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo, người tham gia tố tụng khác. Sau khi xử sơ thẩm: Ngày 20/9/2017 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm bị cáo thừa nhận tội danh và hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm xét xử vụ án đã cho rằng: Xét đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ. Xét nội dung đơn kháng cáo xin được giảm án, đại diện Viện Kiểm sát cấp phúc thẩm xét thấy án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không đưa ra tình tiết giảm nhẹ hình phạt mới nào. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.
XÉT!THẤY!
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Án sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn V phạm tội “Chứa mại dâm”. Áp dụng điểm c khoản 2, 5 Điều 254; điểm p, e khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) để xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn V 03 năm tù, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai. Về nội dung yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy: Bị cáo V đã môi giới cho người mua dâm và gái bán dâm nhằm thực hiện hành vi mua bán dâm tại các phòng trong tiện hớt tóc Kim N do bị cáo làm quản lý để có thu nhập trong việc kinh doanh, đồng thời bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần và trong một thời gian dài (từ tháng 9/2016 đến khi bị bắt).
Ngoài ra, án sơ thẩm đã vận dụng tinh thần theo nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); và theo quy định tại khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Chứa mại dâm” thuộc quy định có lợi cho người phạm tội để xem xét cho bị cáo là đã xem xét toàn diện. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm minh với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đồng thời, cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đồng thời xem xét về vai trò, hành vi phạm tội của bị cáo để áp dụng Điều 47 cho bị cáo ở khung liền kề là đã xem xét, cân nhắc, khoan hồng cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không đưa ra tình tiết giảm nhẹ hình phạt mới nào và mức hình phạt là không nặng, do đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng hình sự.!
QUYẾT!ĐỊNH!
Không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn V phạm tội “Chứa mại dâm”.
Áp dụng điểm c khoản 2, 5 Điều 254; điểm p, e khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:! Nguyễn! Tuấn! V! 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/3/2017.
Giữ nguyên các quyết định khác của bản án sơ thẩm.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án. ! ! Nơi!nhận:!! !
!!!!!!!
TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!
- TAND TC;
(1)
THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!
- TAND cấp cao tại TP.HCM;; (1)
!
- VKSND TP.HCM;
(3)
- VKSND Quận X;
(1)
!
- P.PC 53 - CATP;
(1)
!
- Bị cáo;
(2)
!
- Trại giam;
(2)
!
- Chi cục THA Quận X;
(1)
- TAND Quận X;
(2)
!
- Công an Quận X;
(1)
!
- Sở Tư pháp;
(1)
Nguyễn!Thị!Hà!
- UBND nơi bị cáo cư trú;
(3)
!
- Lưu: VT, THS, hồ sơ; (25)
(4)
!
!
!
!
!
!
!
!
!
!
!
!
!
!
!
!
!