- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Hải V - Nguyễn Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Hải V đối với anh Nguyễn Văn H về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 642/2026/HNGĐ-ST Ngày: 18/5/2026 V/v: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Phương Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Mỹ Hạnh
Ông Nguyễn Văn Lương
- Thƣ ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 441A/2026/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 650/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 724/2026/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hải V, sinh năm 1991; (Có mặt);
CCCD số: 036xxx;
Nơi cư trú: số E, ngách G, đường N, phường H, thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1988; (Vắng mặt);
CCCD số: 001xxx;
Nơi cư trú: số A, ngõ B, ngách Đ, tổ 15, phường Đ, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2026 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị Hải V trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H ly hôn theo Quyết định số 02 ngày 02/01/2020 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội). Tòa án đã quyết định:
Về con chung: Chị Trần Thị Hải V và anh Nguyễn Văn H xác nhận trong thời kỳ hôn nhân anh chị có 02 con chung là Nguyễn Thái B, sinh ngày 07/4/2013 và Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 08/6/2015.
Giao con chung là Nguyễn Thái B, sinh ngày 07/4/2013 cho chị Trần Thị Hải V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 08/6/2015 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Trần Thị Hải V và anh Nguyễn Văn H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung kể từ khi quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
Tuy nhiên, vì lý do công việc, thường xuyên phải đi công tác xa, bỏ mặc cháu Nguyễn Trần Bảo N cho ông bà nội chăm sóc, không quan tâm và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Bảo N; anh Nguyễn Văn H không có thời gian để chăm sóc, nuôi dưỡng cho cháu Nguyễn Trần Bảo N. Do vậy, từ năm 2022 chị đã đón cháu Nguyễn Trần Bảo N về chăm sóc và nuôi dưỡng. Từ năm 2022 đến nay, cháu Nguyễn Trần Bảo N do chị chăm sóc và nuôi dưỡng, trong khoảng thời gian này cháu N luôn được đảm bảo về điều kiện học tập và sự phát triển của cháu N mà không có bất kỳ sự hỗ trợ nào hay cấp dưỡng từ phía anh Nguyễn Văn H.
Nay để đảm bảo cho việc học tập cũng như sự phát triển toàn diện của cháu Nguyễn Trần Bảo N, chị đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, cụ thể: giao cháu Nguyễn Trần Bảo N cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Trường hợp cháu Nguyễn Trần Bảo N do chị chăm sóc, nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con chung.
* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho bị đơn là anh Nguyễn Văn H để đương sự được thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, anh H không gửi văn bản trình bày ý kiến của anh đối với yêu cầu của chị Trần Thị Hải V, không đến Tòa án để làm bản tự khai, không gửi tài liệu, chứng cứ, không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa.
* Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn T, bà Vi Thị Kim O là bố, mẹ của anh Nguyễn Văn H cung cấp cho Tòa án như sau: Anh Nguyễn Văn H là con trai của ông bà. Năm 2020 anh H và chị V ly hôn theo Quyết định số 02/2019/QĐST-HNGĐ ngày 02/01/2020 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội). Theo quyết định, Tòa án giao cháu Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 08/6/2015 cho anh Nguyễn Văn H nuôi dưỡng. Tuy nhiên, do anh H bận công tác không có thời gian chăm sóc cháu N. Nay chị V có đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, ông bà đề nghị Tòa án giải quyết cho chị V được chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Bảo N để cháu N được đảm bảo việc học tập và sự phát triển của con trẻ. Do anh H bận công tác, ông bà nhận thay văn bản cho anh H và cam kết giao lại văn bản cho anh H sau khi nhận.
* Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn là chị Trần Thị Hải V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung của chị và anh H là cháu Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 08/6/2015 cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng vì anh H không quan tâm, chăm sóc cháu N và chị đã đón cháu N về ở với chị từ năm 2022 đến nay; chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại phiên tòa. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Hải V, giao cháu Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 08/6/2015 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh H cho đến khi chị V có yêu cầu hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luât và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trần Thị Hải V có đơn khởi kiện về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn H, cư trú tại: số A, ngõ B, ngách Đ, tổ 15, phường Đ, thành phố Hà Nội. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội.
[2] Về việc xét xử trong trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa: Bị đơn là anh Nguyễn Văn H không có yêu cầu phản tố, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn H.
[3] Về nội dung: Xét yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị Trần Thị Hải V, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Trần Thị Hải V và anh Nguyễn Văn H đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2019/QĐST-HNGĐ ngày 02/01/2020 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội). Theo quyết định nêu trên đã quyết định: giao con chung là cháu Nguyễn Thái B, sinh ngày 07/4/2013 cho chị Trần Thị Hải V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao con chung là cháu Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 08/6/2015 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị Trần Thị Hải V và anh Nguyễn Văn H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung kể từ khi quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi anh chị có sự thay đổi khác.
Theo chị Trần Thị Hải V trình bày, do anh Nguyễn Văn H công việc thường xuyên phải đi công tác xa, để cháu Nguyễn Trần Bảo N cho ông bà nội chăm sóc, không quan tâm, nuôi dưỡng cháu N nên từ năm 2022 đến nay chị đã đón cháu N về chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay để đảm bảo cháu N có điều kiện sinh sống, học tập tốt hơn nên chị V xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn từ anh H sang cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để anh H biết việc chị V xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn nhưng anh H không đến Tòa án để giải quyết và cũng không có ý kiền gì về yêu cầu của chị V. Cháu Nguyễn Trần Bảo N có lời khai cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy: mặc dù theo quyết định của Tòa án giao cho anh H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Bảo N sau khi ly hôn, nhưng do điều kiện bận công việc, anh H không quan tâm, chăm sóc cháu N; từ năm 2022 đến nay chị V đã đón cháu N về chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu N là con gái, đang ở độ tuổi dậy thì nên rất cần sự gần gũi và chăm sóc trực tiếp của người mẹ. Bản thân cháu N cũng có lời khai cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Ông Nguyễn Văn T, bà Vi Thị Kim O là bố, mẹ đẻ của anh H có lời khai đề nghị Tòa án giải quyết để chị V được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N.
Xét nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị V là chính đáng, phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận, Tòa án giao con chung của chị V và anh H là cháu Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 08/6/2015 cho chị Trần Thị Hải V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, kể từ tháng 5/2026 cho đến khi cháu N trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: do chị V không yêu cầu và anh H không có ý kiến, nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh H cho đến khi chị V có yêu cầu hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo, anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, trả lại chị Trần Thị Hải V số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội tại phiên tòa phù hợp với pháp luật, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Hải V đối với anh Nguyễn Văn H về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Giao con chung của chị Trần Thị Hải V và anh Nguyễn Văn H là cháu Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 08/6/2015 cho chị Trần Thị Hải V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, kể từ tháng 5/2026 cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Nguyễn Văn H cho đến khi chị Trần Thị Hải V có yêu cầu hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Anh Nguyễn Văn H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
2. Về án phí:
- Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Trả lại chị Trần Thị Hải V số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Trần Thị Hải V đã nộp theo biên lai thu số 0007563 ngày 31/3/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Hải V có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội; - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Hà Nội; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Phƣơng Minh |