vanban.org

Bản án 64/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 08/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Ngọc Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31 tháng 10 năm 2025. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 cái quần short vải màu đen có in chữ EXTREME CLASSIC màu trắng bên túi trái; 0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Ngoc Đ - cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Ngọc Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2026/HS-ST
Ngày: 08-5-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Nhậm

Bà Nguyễn Thị Thuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hằng, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Tây Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thường Ân - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2026/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc Đ (không có tên gọi khác); Giới tính: Nam; sinh ngày 15 tháng 4 năm 1991, tại: Đồng Tháp; Nơi cư trú: Tổ A ấp T xã H tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Họ tên cha: Nguyễn Ngọc C, sinh năm: 1969; Họ tên mẹ: Phạm Phú N, sinh năm: 1969; Vợ: Nguyễn Thị Thu T. sinh năm: 1992; có 04 người con, lớn nhất sinh năm: 2011, nhỏ nhất sinh năm: 2023, tiền sự: Không; tiền án: Ngày 05 tháng 9 năm 2024, bị Toà án nhân dân huyện Bình Chánh Thành phố Hồ Chính Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong ngày 01 tháng 5 năm 2025. (chưa được xoá án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31 tháng 10 năm 2025 cho đến nay, tại Phân trại tạm giam T thuộc Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh T.

Người bị hại: Nguyễn Ngọc B, sinh năm: 1984, địa chỉ: 3 Đường P phường K tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30 tháng 10 năm 2025, Nguyễn Ngọc Đ điều khiển xe mô tô biển số 29B1-643.72 từ Thành phố Hồ Chí Minh về tỉnh Đồng Tháp, để thăm vợ và các con. Khoảng 12 giờ 30, phút, khi qua cầu T (phường L), Đ rẽ vào chợ T1 (trên đường K), nhìn thấy Nguyễn Ngọc B đang bán rau, trên cổ có sợi dây chuyền vàng. Lúc này, Đ nảy sinh ý định giật dây chuyền vàng, Đ chạy xe vượt qua khoảng 20m rồi quay lại, giả vờ hỏi mua 10.000 đồng rau muống. Khi B đưa rau và nhận tiền, Đ bất ngờ dùng tay trái giật sợi dây chuyền rồi tăng ga bỏ chạy theo hướng đường L. B truy hô và đuổi theo một đoạn nhưng không kết quả. Sau đó, B đến cơ quan công an trình báo.

Nguyễn Ngọc Đ điều khiển xe đến khu vực vòng xoay nghĩa trang L1 rồi rẽ đi T. Khi đến xã T (Tây Ninh), Đ bị Công an xã kiểm tra, mời làm việc và đã khai nhận hành vi giật dây chuyền, đồng thời giao nộp tang vật liên quan.

Theo Bản Kết luận định giá tài sản số: 02/KL-HĐĐGTS ngày 29 tháng 01 năm 2026 của Hội đồng định giá tài sản phường L, kết luận sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, có mặt kim loại hình hoa mai, khối lượng 7,3756 gam có thành phần kim loại chủ yếu là: Vàng (A): 58,85%; Bạc (Ag): 16,99%; Đồng (Cu): 19,83%, ngày 30 tháng 10 năm 2025 là 15.566.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 05/CT-VKS-KV1 ngày 26 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Tây Ninh đã truy tố Nguyễn Ngọc Đ về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điều 38; Điều 50 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ từ 05 năm đến 06 năm tù.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

- 01 cái quần short vải màu đen có in chữ EXTREME CLASSIC màu trắng bên túi trái.

- 01 cái áo sơ mi vải dài tay kiểu caro sọc vuông đỏ, xanh, vàng, trên nhãn hiệu có in chữ PLORY Pride & Glory màu vàng.

- 01 đôi dép quai ngang bằng da, màu đen.

- 01 khẩu trang y tế màu xanh, nhãn hiệu Fama pro.

- 01 nón bảo hiểm màu đỏ có in chữ Honda màu trắng phía trước.

Đối với sợi dây kim loại màu vàng có kích thước dài 50cm, hình dạng dây đồng tiền và kèm theo 01 (một) mặt kim loại hình hoa mai màu vàng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã trả lại cho bị hại Nguyễn Ngọc B.

Tiền Việt Nam: 500.000 đồng, đã trả lại cho Nguyễn Ngọc Đ.

Tịch thu xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu SYM Atila Alizabeth màu sơn đỏ, biển kiểm soát 29B1-643.72, số khung RLGKA12GD-AD037040, số máy VMVTBA-D037040.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản luận tội đã nêu; bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không có khiếu nại đối với cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Bị cáo không thực hiện quyền tranh luận mà xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Ngọc Đ tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung Cáo trạng, phù hợp với lời khai của người bị hại, Biên bản sự việc, Kết luận định giá, Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh hiện trường cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Ngọc Đ là người có tiền án về tội rất nghiêm trọng chưa được xoá án tích. Ngày 30 tháng 10 năm 2025 bị cáo Nguyễn Ngọc Đ điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 29B1-643.72 từ Thành phố Hồ Chí Minh đến địa phận tỉnh Tây Ninh. Khi qua cầu T (phường L), Đ rẽ vào chợ T1, trên đường K thì giật dây chuyền (trị giá 15.566.000 đồng) của Nguyễn Ngọc B.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người bị hại. Khi thực hiện tội phạm, bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì tham lam nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo nhận thức được việc sử dụng xe mô tô để cướp giật tài sản của người khác có thể gây thương tích hoặc dẫn đến hậu quả chết người nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Hơn nữa, bị cáo đã từng bị Tòa án kết án về tội “Cướp giật tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét bị cáo Nguyễn Ngọc Đ có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Về vật chứng:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T có thu giữ vật chứng gồm: 01 cái quần short vải màu đen có in chữ EXTREME CLASSIC màu trắng bên túi trái; 01 cái áo sơ mi vải dài tay kiểu caro sọc vuông đỏ, xanh, vàng, trên nhãn hiệu có in chữ PLORY Pride & Glory màu vàng; 01 đôi dép quai ngang bằng da, màu đen; 01 khẩu trang y tế màu xanh, nhãn hiệu Fama pro; 01 nón bảo hiểm màu đỏ có in chữ Honda màu trắng phía trước. các vật chứng nêu trên đã qua sử dụng, tại phiên tòa, bị cáo không có yêu cầu được nhận lại và các vật dụng đó không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 29B1-643.72, màu đỏ, hiệu SYM Atila Alizabeth không giấy chứng nhận đăng ký xe: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành xác minh phương tiện nêu trên: không có trong cơ sở dữ liệu lưu trữ xe máy vật chứng của Bộ C1, đồng thời, qua xác minh: Nguyễn Thành L, sinh năm 1964, nơi thường trú: số E H phường B thành phố Hà Nội (người đứng tên xe mang biển kiểm soát 29B1-643.72) khai nhận đã bán xe trên. Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ cũng thừa nhận đã mua chiếc xe nêu trên qua mạng xã hội với giá 2.800.000 đồng và dùng để làm phương tiện cho việc phạm tội nên tịch thu.

Đối với sợi dây kim loại màu vàng có kích thước dài 50cm, hình dạng dây đồng tiền và kèm theo 01 (một) mặt kim loại hình hoa mai màu vàng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã trả lại cho bị hại Nguyễn Ngọc B là phù hợp với quy định. Tiền Việt Nam: 500.000 đồng thu gữ của bị cáo, không phải là tiền do phạm tội mà có nên đã được trả lại cho Nguyễn Ngọc Đ là phù hợp pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Ngọc B đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã thể hiện đúng hành vi mà bị cáo đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Ngọc Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điều 38; Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31 tháng 10 năm 2025.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08 tháng 5 năm 2026) để đảm bảo việc thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 cái quần short vải màu đen có in chữ EXTREME CLASSIC màu trắng bên túi trái; 01 cái áo sơ mi vải dài tay kiểu caro sọc vuông đỏ, xanh, vàng, trên nhãn hiệu có in chữ PLORY Pride & Glory màu vàng; 01 đôi dép quai ngang bằng da, màu đen; 01 khẩu trang y tế màu xanh, nhãn hiệu Fama pro; 01 nón bảo hiểm màu đỏ có in chữ Honda màu trắng phía trước.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu SYM Atila Alizabeth màu sơn đỏ, biển kiểm soát 29B1-643.72, số khung RLGKA12GD-AD037040, số máy VMVTBA-D037040.

(các vật chứng này hiện nay do Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 - Tây Ninh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 03/QĐ-VKSKV1 ngày 26 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, căn cứ các Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: bị cáo Nguyễn Ngọc Đ có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08 tháng 5 năm 2026). Người bị hại Nguyễn Ngọc B vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ