vanban.org

Bản án 64/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 - Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Cẩm H với ông Huỳnh Tuấn K.

2 - Về quan hệ nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bà Lê Thị Cẩm H với ông Huỳnh Tuấn K, cụ thể: Sau khi ly hôn, giao Huỳnh Khánh Đ, sinh ngày 31/01/2013 và Huỳnh Ngọc K1, sinh ngày 12/6/2020 cho bà H trực tiếp nuôi (có đơn trình bày nguyện cọng của Huỳnh Khánh Đ), ông K không cấp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H - K"
  • Tòa quyết gì? 1 - Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Cẩm H với ông Huỳnh Tuấn K.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 17-4-2026
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Oai

2. Bà Trần Thị Mộng Lành

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7

- An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2026/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2026 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/3/2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Cẩm H, sinh năm 1984

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Tuấn K, sinh năm 1986

Cùng địa chỉ: Ấp L, xã A, tỉnh An Giang

(Các đương sự có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm H với bị đơn ông Huỳnh Tuấn K đã thống nhất xác định những nội dung cụ thể như sau:

Bà Lê Thị Cẩm H và ông Huỳnh Tuấn K chung sống với nhau từ năm 2010 đến nay không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống hạnh phúc được khoảng 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên xảy ra cãi nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể khắc phục được nên đã ly thân nhau từ năm 2023 đến nay.

Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Khánh Đ, sinh ngày 31/01/2013 và Huỳnh Ngọc K1, sinh ngày 12/6/2020.

Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng không tài sản chung.

Về quan hệ nợ chung: Vợ chồng không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng.

Nay nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm H với bị đơn ông Huỳnh Tuấn K thống nhất thỏa thuận:

1. Về quan hệ hôn nhân: Thuận tình ly hôn nhau, nhưng do ông bà từ trước đến nay chưa đăng ký kết hôn và cũng chưa được cơ quan chuyên môn nào cấp giấy chứng nhận kết hôn nên không thể ghi nhận;

2. Về quan hệ nuôi con chung: Giao 02 con chung cho bà H trực tiếp nuôi, ông K không cấp dưỡng nuôi con cùng bà H sau khi vợ chồng ly hôn.

Hiện bà H đang làm nghề tóc, thu nhập trung bình mỗi tháng 10.000.000 đồng;

3. Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng không tài sản chung, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;

4. Về quan hệ nợ chung: Vợ chồng không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa:

- Các đương sự vắng mặt lần thứ nhất, nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét những vấn đề cụ thể như sau, về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Cẩm H với ông Huỳnh Tuấn K; về quan hệ nuôi con chung: ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa bà H và ông K, giao 02 đứa chung tên Huỳnh Khánh Đ, sinh ngày 31/01/2013 và Huỳnh Ngọc K1, sinh ngày 12/6/2020 cho bà H trực tiếp nuôi, ông K không cấp dưỡng nuôi con cùng bà H sau khi vợ chồng ly hôn; về quan hệ tài sản chung và về nợ chung: không có, không tranh chấp nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trong vụ án.

Về nội dung: Nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm H với bị đơn ông Huỳnh Tuấn K thống nhất vợ chồng từ khi sống chung với nhau đến nay không đăng ký kết hôn, về con chung, về tài sản chung, về nợ. Theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, HĐXX khẳng định đây là sự thật.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Cẩm H và ông Huỳnh Tuấn K chung sống với nhau năm 2010, nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền (UBND xã). Như vậy là vi phạm quy định về đăng ký kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (có hiệu lực ngày 01-01-2001). Đến khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (có hiệu lực ngày 01-01-2015) và thực tế từ khi có đơn yêu cầu xin ly hôn của bà H và cho đến nay ông, bà vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, nay bà H có yêu cầu ly hôn thì theo quy định tại khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tòa án sẽ quyết định bằng bản án tuyên bố không công nhận hai người là vợ chồng.

Về quan hệ nuôi con chung: Hai bên đương sự cùng nhau thống nhất xác định và tự thỏa thuận, sau khi ly hôn giao 02 con chung tên Huỳnh Khánh Đ, sinh ngày 31/01/2013 và Huỳnh Ngọc K1, sinh ngày 12/6/2020 cho bà H trực tiếp nuôi, ông K không cấp dưỡng nuôi con cùng bà H sau khi vợ chồng ly hôn. Đồng thời cháu Huỳnh Khánh Đ cũng đã có ý kiến bằng văn bản, sau khi cha Huỳnh Tuấn K và mẹ Lê Thị Cẩm H ly hôn thì có nguyện vọng sống chung với mẹ. Thấy rằng, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự và cũng phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên cần ghi nhận.

Việc bà H không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con cùng bà sau khi vợ chồng ly hôn là tự nguyện, hơn nữa giữa hai bên đều thống nhất xác định và công nhận bà H có nghề nghiệp và có thu nhập ổn định nên có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con chung. Do đó, ông K không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng bà H sau khi vợ chồng ly hôn.

Về quan hệ tài sản chung và quan hệ nợ chung: Nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm H với bị đơn ông Huỳnh Tuấn K cùng thống nhất xác định, vợ chồng không tài sản chung, không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Xét ý kiến đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm H có đơn yêu cầu xin ly hôn nên bà H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 91, Điều 92, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,

Áp dụng khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81, khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1 - Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Cẩm H với ông Huỳnh Tuấn K.

2 - Về quan hệ nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bà Lê Thị Cẩm H với ông Huỳnh Tuấn K, cụ thể: Sau khi ly hôn, giao Huỳnh Khánh Đ, sinh ngày 31/01/2013 và Huỳnh Ngọc K1, sinh ngày 12/6/2020 cho bà H trực tiếp nuôi (có đơn trình bày nguyện cọng của Huỳnh Khánh Đ), ông K không cấp dưỡng nuôi con cùng bà H sau khi vợ chồng ly hôn.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3 - Về quan hệ tài sản chung và về quan hệ nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

4 - Về án phí: Nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm H có đơn yêu cầu xin ly hôn nên bà H phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 301727 ngày 26/02/2026 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 - An Giang; bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ