vanban.org

Bản án 64/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Nguyễn Đức A sinh ngày 12/10/2024. Ly hôn, giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Anh H1 có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Chị H và anh H1 và có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa chị H1 - anh H2"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 29/4//2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Quảng

2. Bà Đoàn Thị Duyên

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 26/2026/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2026 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2026/QĐXXST - HNGĐ ngày 01/4/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2026/QĐ-HNGĐ ngày 20/4/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2006

Địa chỉ: thôn H, xã T, tỉnh Hưng Yên

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 2002

Nơi ĐKHKTT: thôn D, xã T, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị H và anh H1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T nay là xã T tỉnh Hưng Yên vào ngày 31 tháng 5 năm 2024. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã T huyện K, tỉnh Thái Bình nay là xã T tỉnh Hưng Yên. Đến năm 2025, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng tính cách, quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân, không còn liên lạc với nhau, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng đã hết, không thể hàn gắn được, chị H đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên giải quyết cho chị được ly hôn anh H1. Vợ chồng chị có 01 con chung là Nguyễn Đức A sinh ngày 12/10/2024 đang ở cùng anh H1. Ly hôn chị H có nguyện vọng để anh H1 được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Nếu anh H1 không nuôi con thì chị H trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung. Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung, không vay nợ chung. Bị đơn là anh Nguyễn Văn H1 không đến Tòa án làm việc vì vậy Tòa án không ghi được lời khai của anh H1.

Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T và biên bản ghi lời khai của bà Trần Thị B (là mẹ anh H1 ) thể hiện: Anh H1 và chị H tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T nay là xã T tỉnh Hưng Yên vào năm 2024. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn D xã T huyện K tỉnh Thái Bình nay là xã T tỉnh Hưng Yên. Quá trình chung sống đến năm 2025, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi. Vợ chồng có 01 con chung như chị H trình bày. Khoảng tháng 7/2025, chị H đưa con chung về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, sau đó anh H1 đã đón con chung về sống cùng gia đình bà từ tháng 8/2025 đến nay. Việc chị H xin ly hôn anh H1, anh H1 đã biết nhưng do anh H1 hiện nay đang đi làm ở thành phố Hà Nội nên không thể đến Tòa án làm việc, anh H1 có nói lại với bà là anh H1 đồng ý ly hôn chị H. Nay chị H xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định của pháp luật. Về con chung nếu chị H có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung thì anh H1 cũng đồng ý và không cấp dưỡng nuôi con. Nếu chị H không đồng ý nuôi dưỡng con chung thì anh H1 đồng ý nuôi và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung. Vợ chồng không vay nợ của các tổ chức, đoàn thể tại địa phương. Anh H1 vẫn đang cư trú tại địa phương.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên có quan điểm cho rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã cơ bản tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về ý kiến giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận cho chị H được ly hôn anh H1.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Đức A sinh ngày 12/10/2024. Ly hôn giao con chung Nguyễn Đức A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận việc chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H1 có quyền thăm nom, chăm sóc con chung.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự. [3] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị H và anh H1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T nay là xã T tỉnh Hưng Yên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2025 đến nay. Tòa án đã triệu tập để hòa giải đoàn tụ vợ chồng nhưng chị H vẫn kiên quyết ly hôn và anh H1 vắng mặt. Điều này chứng tỏ đời sống chung của vợ chồng thực tế không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị H, xử cho chị H được ly hôn anh H1 là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. [4] Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Nguyễn Đức A sinh ngày 12/10/2024. Con chung hiện đang sinh sống cùng anh H1 và mẹ anh H1. Ly hôn chị H có nguyện vọng để anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nếu anh H1 không trực tiếp nuôi con thì chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con. Qua xác minh tại địa phương thì hiện tại anh H1 đang đi làm ở tỉnh ngoài, không thường xuyên có mặt ở nhà nên không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của chị H: giao cháu Đức A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho con chung. Anh H1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Về quan hệ tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung, Tòa án chưa ghi được lời khai của anh H1 nên chưa có cơ sở xem xét, vì vậy Tòa án không giải quyết về quan hệ tài sản chung.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức Huê án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.

2. Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Nguyễn Đức A sinh ngày 12/10/2024. Ly hôn, giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Anh H1 có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Chị H và anh H1 và có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, thay đổi cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về quan hệ tài sản: Không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai Huê tiền số 0000351 ngày 19/01/2026 của Cơ quan thi hành án dân sự khu vực 6

- Hưng Yên sang thi hành án phí.

5.Về quyển kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Văn H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ