vanban.org

Bản án 64/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A S phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thào A S: 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 19 tháng 01 năm 2025. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào A Sử - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A S phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NẬM PỒ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/HS-ST
Ngày 28/ 5 / 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Thuý

2. Ông Khoàng Văn Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Khôi - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2025/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Thào A S sinh ngày 07 tháng 6 năm 1966 tại Thị trấn Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú: Bản Đề Bua, xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên; Thẻ CCCD: 011066002879; Nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ Công An; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thào A L sinh năm 1935 (đã chết) và con bà Sùng Thị C sinh năm 1935 (đã chết); Bị cáo Thào A S có vợ tên là Hoàng Thị L sinh năm 1967. Có 05 con, lớn nhất 35 tuổi, nhỏ nhất 28 tuổi. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án kết tội lần nào. Bị cáo Thào A S bắt tạm giữ từ ngày 19 tháng 01 năm 2025 đến ngày 22 tháng 01 năm 2025, tạm giam từ ngày 22 tháng 01 năm 2025 đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Thào A S: Bà Nguyễn Thị Lan trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên tham gia tố tụng. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05 giờ ngày 19 tháng 01 năm 2025 bị cáo Thào A S đi bộ từ nhà ở bản Đề Bua, xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên lên khu vực biên giới Việt Nam – Lào gần mốc biên giới số 67 với mục đích tìm mua ma tuý về sử dụng và bán lẻ kiếm tiền bất chính thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 60 tuổi, không biết tên, địa chỉ ở đâu. Qua nói chuyện biết người đàn ông này có ma túy bán. Bị cáo Thào A S đã mua được của ông ta 03 (ba) gói Heroine nhỏ với số tiền là 2.500.000 đồng và ông ta cho bị cáo Thào A S 01 (một) gói ma tuý tổng hợp. Mua bán xong người đàn ông đó đi đâu bị cáo không biết, còn bị cáo Thào A S cho số ma tuý mua được vào trong túi thổ cẩm đang đeo rồi đi bộ về nhà. Khoảng 10 giờ ngày 19 tháng 01 năm 2025, khi bị cáo Thào A S đang đi bộ đến gần nhà ở bản Đề Bua, xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ bị tổ công tác Đồn biên phòng Si Pha Phìn và Phòng phòng chống ma tuý và tội phạm – Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án.

Ngày 19 tháng 01 năm 2025 Công an huyện Nậm Pồ cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, khối lượng Heroine là 23,78 gam và khối lượng ma tuý tổng hợp là 0,85 gam thu giữ của Thào A S.

Bản kết luận giám định số: 114/KL-KTHS ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

- Vật chứng thu giữ của Thào A S có ký hiệu, khối lượng mẫu M1: 19,59 gam; M2: 3,07 gam; M4: 1,12 gam các cục chất bột dạng nén, màu trắng đục là chất ma tuý: Loại Heroine; M3 :0,85 gam các viên nén màu hồng là chất ma tuý: Loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Bản cáo trạng số: 35/CT-VKSNP ngày 24 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ đã truy tố Thào A S để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251 BLHS; Điều 38; điểm p, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Thào A S từ: 12 (mười hai) năm tù đến: 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS; Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án.

Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH khóa 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Thào A S không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố cũng như phần luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đề nghị HĐXX xem xét đến điều kiện sinh sống của bị cáo dẫn đến nhận thức pháp luật có phần hạn chế; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng điểm p, s khoản 1 Điều 51 BLHS, xem xét xử phạt cho bị cáo Thào A S mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; đề nghị không áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; đề nghị không áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS về hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí, đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/ UBTVQH khóa 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung truy tố trong Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Thào A S nhất trí với lời bào chữa và không có ý kiến bổ sung; không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi phạm tội bị cáo thấy: Lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 05 giờ ngày 19 tháng 01 năm 2025 bị cáo Thào A S đi bộ từ nhà ở bản Đề Bua, xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên lên khu vực biên giới Việt Nam – Lào gần mốc biên giới số 67 với mục đích tìm mua ma tuý về sử dụng và bán lẻ kiếm tiền bất chính thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 60 tuổi, không biết tên, địa chỉ ở đâu. Qua nói chuyện biết người đàn ông này có ma túy bán. Bị cáo Thào A S đã mua được của ông ta 03 (ba) gói Heroine nhỏ với số tiền là 2.500.000 đồng và ông ta cho bị cáo Thào A S 01 (một) gói ma tuý tổng hợp. Mua bán xong người đàn ông đó đi đâu bị cáo không biết, còn bị cáo Thào A S cho số ma tuý mua được vào trong túi thổ cẩm đang đeo rồi đi bộ về nhà. Khoảng 10 giờ ngày 19 tháng 01 năm 2025, khi bị cáo Thào A S đang đi bộ đến gần nhà ở bản Đề Bua, xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ bị tổ công tác Đồn biên phòng Si Pha Phìn và Phòng phòng chống ma tuý và tội phạm – Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án. Hành vi mua khối lượng 23,78 gam Heroine và khối lượng 0,85 gam Methamphetamine. Tổng hai chất ma tuý là 24,63 gam. Mục đích sử dụng và bán lẻ kiếm tiền bất chính. Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận bị cáo Thào A S đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 BLHS. “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm”.

Điểm p) Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này.

Việc VKSND huyện Nậm Pồ truy tố bị cáo Thào A S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 BLHS là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, bị cáo không bị oan sai.

Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo thấy: Đây là vụ án rất nghiêm trọng về ma túy, mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thấy: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án kết tội lần nào. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo Thào A S có giấy chứng nhận người khuyết tật nặng và được trợ cấp hàng tháng đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Thào A S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.

Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX, xử phạt bị cáo Thào A S từ: 12 (mười hai) năm tù đến: 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xem xét xử phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng điểm p, s khoản 1 Điều 51 BLHS; HĐXX xét thấy có căn cứ áp dụng. Đề nghị HĐXX xử phạt mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện Kiểm sát. HĐXX xét thấy việc đề nghị của người bào chữa là phù hợp nên được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. HĐXX xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó HĐXX chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, người bào chữa về việc không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông dân tộc Thái bán Heroine cho bị cáo; do bị cáo không biết tên, địa chỉ ở đâu do đó không có cơ sở để xử lý trong vụ án. Theo lời khai của bị cáo Thào A S ngoài mua ma tuý lần này. Bị cáo Thào A S đã mua ma tuý của người đàn ông trên một lần trước đó với số tiền là 2.000.000 đồng về để sử dụng và bán lẻ kiếm tiền bất chính. Ngoài lời khai của bị cáo Cơ quan CSĐT không có đủ cơ sở để chứng minh, kết luận về hành vi bán lẻ kiếm tiền bất chính lần trước. HĐXX không đặt vấn đề xử lý trong vụ án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng: 20,05 gam Heroine và khối lượng 0,6 gam Methamphetamine; 01 (một) túi vải thổ cẩm nhiều màu đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng và toàn bộ bao bì niêm phong là vật chứng vụ án Thào A S.

Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị cáo Thào A S có giấy chứng nhận hộ nghèo do UBND xã cấp. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH khóa 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; HĐXX quyết định miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát; Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không khiếu nại hoặc ý kiến gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Áp dụng Điều 38, điểm p, s khoản 1 Điều 51; điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A S phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thào A S: 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 19 tháng 01 năm 2025.

3.Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng: 20,05 gam Heroine và khối 0,6 gam Methamphetamine; 01 (một) túi vải thổ cẩm nhiều màu đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng và toàn bộ bao bì niêm phong là vật chứng vụ án Thào A S. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 4 năm 2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nậm Pồ.

4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH khóa 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Thào A S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 28 tháng 5 năm 2025).

Cỡ chữ