vanban.org

Bản án 64/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 17/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Vũ Hoài P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Hoài P - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/HS-ST
Ngày: 17-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Hiểu

Bà Lê Thị Chúc Ngân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thủy Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm - Hội trường A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu thành phần - Hội trường xét xử trực tuyến - Phân trại tạm giam khu vực T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 66/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Vũ Hoài P, sinh năm 2002, căn cước công dân số 075202007155 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A, tổ A, ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Số H, ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Viết T (1971) và bà Bùi Thị Hương H (1979); bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có bốn anh em và chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/11/2024 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực T.

(Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Xuân V, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Số H, ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt)

- Người tham gia tố tụng khác: Ông Trần Văn C, ông Lê Minh V1, ông Phạm Việt A là Cán bộ và Chiến sĩ nghĩa vụ của P1 trại tạm giam khu vực T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 08/11/2024, Vũ Hoài P đã bàn bạc với bạn ở thuê chung nhà là Nguyễn Châu T1 góp tổng số tiền là 800.000 đồng (mỗi người 400.000 đồng) để mua ma túy về sử dụng. P đề nghị T1 ứng trước tiền mua ma túy, P sẽ trả tiền lại sau cho T1. Bàn bạc xong, T1 liên lạc với một đối tượng có tên “Đen” ở gần khu vực quán cà phê “Phương Uyên” ở xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai để mua ma túy. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô đến gặp Đ mua ma túy và mang về giấu trong 01 hộp đựng giấy màu đen trong phòng bếp rồi chỉ cho P biết vị trí cất giấu ma túy. Đến trưa ngày 08/11/2024, giữa P và T1 xảy ra mâu thuẫn, T1 điều khiển xe mô tô đi khỏi nhà. Đến 17 giờ 45 phút ngày 08/11/2024, Vũ Hoài P lấy ma túy ra sử dụng thì bị Công an huyện T kiểm tra, bắt quả tang cùng tang vật.

Kết luận giám định số 2318/KL-KTHS ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Một túi nylon chứa tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,7782 gam, loại: Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 36/CT-VKS.TN ngày 08 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố Vũ Hoài P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo P từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm và xử lý vật chứng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Hoài P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Ngô Xuân V mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của anh V không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

2 Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, Vũ Hoài P khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 17 giờ 45 phút ngày 08/11/2024, tại căn nhà số H ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Công an huyện T kiểm tra, bắt quả tang Vũ Hoài P tàng trữ trái phép 0,7782 gam ma túy, loại: Methamphetamine.

Như vậy, hành vi của Vũ Hoài P thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy ..., thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...c) ..., M ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Do đó, Cáo trạng số 36/CT-VKS.TN ngày 08 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố Vũ Hoài P về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là đúng người, đúng tội và không oan sai cho bị cáo.

3 Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Xét tính chất của vụ án thấy rằng, tình hình tội phạm ma túy nói chung và trên địa bàn huyện T nói riêng có chiều hướng phức tạp, với tính chất ngày càng nghiêm trọng, gây nhức nhối cho xã hội và trở thành nỗi lo của nhiều gia đình. Hậu quả do tệ nạn ma túy gây ra rất nghiêm trọng, làm tổn hại sức khỏe của một bộ phận nhân dân, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

4 Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu; ngoài ra bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật bị hạn chế là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

5 Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo có thời gian suy nghĩ về hành vi phạm tội của mình, tự giác cải tạo, học tập, lao động trở thành công dân sống lương thiện, có ích cho xã hội và biết tuân thủ pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền…”. Tuy nhiên, do bị cáo không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

7 Về vật chứng vụ án:

- Một gói niêm phong số 2318/KL-KTHS, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; một bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế (gồm 01 nỏ tủy tinh, 01 vỏ chai nhựa màu trắng, 01 ống hút nhựa màu xanh) không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu vàng (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động Samsung A04, màu xanh dương (đã qua sử dụng) và 01 Camera hiệu Viettel, màu trắng tạm giữ của bị cáo, qua kiểm tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã quyết định trao trả lại bị cáo (Theo Quyết định xử lý vật chứng số 52/QĐ-ĐCSHS và Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu cùng ngày 16/02/2025) là phù hợp.

Các vấn đề khác:

- Đối với đối tượng có tên Nguyễn Châu T1, sinh năm 1998, trú tại tổ B, ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai theo bị cáo khai là người đã góp tiền với bị cáo và trực tiếp liên lạc mua ma túy của đối tượng tên “Đen” đã bỏ trốn khỏi địa phương, Công an huyện T đã tiến hành xác minh, truy tìm, nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả, cơ quan Công an sẽ tiếp tục điều tra có kết quả sẽ xử lý sau.

- Đối với đối tượng có tên “Đen” ở khu vực quán cà phê “Phương Uyên” ở xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo bị cáo khai là đối tượng đã bán ma túy cho Nguyễn Châu T1, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối tượng có đặc điểm như trên nhưng chưa có kết quả nên chưa có căn cứ xử lý.

- Đối với anh Ngô Xuân V là chủ sở hữu của căn nhà tại địa chỉ số H ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã cho bị cáo thuê để ở nhưng anh V hoàn toàn không biết việc bị cáo dùng nơi ở thuê để thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ xử lý.

9 Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về phần tội danh, điều khoản truy tố và hình phạt là có căn cứ, phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên chấp nhận.

10 Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

\

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

- Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Hoài P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Hoài P 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/11/2024.

2. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy một gói niêm phong số 2318/KL-KTHS, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định; một bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế (gồm 01 nỏ tủy tinh, 01 vỏ chai nhựa màu trắng, 01 ống hút nhựa màu xanh) (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Hoài P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ