vanban.org

Bản án 64/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lê Hoàng D và chị Nguyễn Thị O.

Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Lê Hoàng Quý, sinh ngày 03/9/2007, Lê Hoàng Gia Huy, sinh ngày 10/4/2012 và Lê Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 10/4/2012 cho anh Lê Hoàng D nuôi dưỡng, tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị O. Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị O không trực tiếp nuôi con c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Hoàng Dân - Nguyễn Thị Oanh"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lê Hoàng D và chị Nguyễn Thị O.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 179 Bộ luật tố tụng D sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng D sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN D
HUYỆN ĐÔNG H
TỈNH B
Bản án số: 64/2025/HNGĐ – ST
Ngày: 21 – 5 – 2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN D HUYỆN ĐÔNG H, TỈNH B

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

– Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nhƣ Ý

– Các Hội thẩm nhân D:

Ông: Lê Văn Lil

Ông: Nguyễn Văn Tâm

– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Anh, Thư ký Tòa án Tòa án nhân D huyện Đông H.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân D huyện Đông H tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Dựa, kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân D huyện Đông H, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án D sự thụ lý số: 159/2025/TLST – HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

– Nguyên đơn: Anh Lê Hoàng D, sinh năm 1984

+ Địa chỉ: Ấp Lương Trí, xã Mỹ Lương, huyện C, tỉnh T

– Bị đơn: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1988

+ Địa chỉ: Ấp Cây Giang, xã Long Điền, huyện Đ, tỉnh B

(Anh D có đơn xin xét xử vắng mặt, chị O vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

– Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lê Hoàng D trình bày: Vào năm 2005 anh D, chị O tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo luật định. Vợ chồng chung sống đến đầu năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, không còn quan tâm đến nhau, cuộc sống vợ chồng không còn tồn tại và không thể hàn gắn được, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn đối với chị O. Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung tên Lê Hoàng Quý, sinh ngày 03/9/2007, Lê Hoàng Gia Huy, sinh ngày 10/4/2012 và Lê Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 10/4/2012, hiện các con chung đang sống với anh D, anh D yêu cầu được tiếp tục nuôi, không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con. Về nợ chung, tài sản chung: Không có, không cầu Tòa án giải quyết.

– Về phía bị đơn chị Nguyễn Thị O: Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị O theo quy định của pháp luật, cháu Lê Hoàng Quý là con ruột của chị Nguyễn Thị O sống chung trong gia đình nhận thay và cam kết giao lại nhưng chị O vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị O theo quy định tại Điều 177, 227 của Bộ luật tố tụng D sự.

– Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân D huyện Đông H:

+ Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Bộ luật tố tụng D sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn anh Lê Hoàng D đúng theo quy định pháp luật, bị đơn chị Nguyễn Thị O chưa chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

+ Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 179, Điều 227 của Bộ luật tố tụng D sự 2015; Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Lê Hoàng D đối với chị Nguyễn Thị O; Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Lê Hoàng Quý, sinh ngày 03/9/2007, Lê Hoàng Gia Huy, sinh ngày 10/4/2012 và Lê Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 10/4/2012 cho anh Lê Hoàng D nuôi dưỡng, tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị O; Về nợ chung, tài sản chung: Không có, không đặt ra; Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm anh Lê Hoàng D phải nộp theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đã trình bày và có yêu cầu Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về hôn nhân: Anh D và chị O chung sống vợ chồng có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, không còn quan tâm, tôn trọng lẫn nhau và đã ly thân từ đầu năm 2016 cho đến nay. Mặc dù đã được gia đình hai bên hàn gắn đoàn tựu nhiều lần nhưng không thành, từ đó thấy rằng mâu thuẫn gia đình của anh D và chị O là đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau nhưng anh chị không thực hiện được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình là có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Lê Hoàng D đối với chị Nguyễn Thị O.

. Về con chung: Theo anh D xác định vợ chồng có 03 người con chung tên Lê Hoàng Quý, sinh ngày 03/9/2007, Lê Hoàng Gia Huy, sinh ngày 10/4/2012 và Lê Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 10/4/2012, hiện các con chung đang sống với anh D, anh D yêu cầu được tiếp tục nuôi, không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, từ khi vợ chồng không còn chung sống cho đến nay anh D là người trực tiếp nuôi con chung và con chung cũng có nguyện vọng sống với anh D nên cần tiếp tục giao cho anh D nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do anh D không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị O không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được cản trở.

. Về nợ chung: Theo anh D xác định vợ chồng không có nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng, anh D không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

. Về tài sản chung: Anh D không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

. Về phía bị đơn chị Nguyễn Thị O: Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị O theo quy định của pháp luật, cháu Lê Hoàng Quý là con ruột của chị Nguyễn Thị O sống chung trong gia đình nhận thay và cam kết giao lại nhưng chị O vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị O theo quy định tại Điều 177, 227 của Bộ luật tố tụng D sự.

. Về án phí hôn nhân và gia đình anh D phải nộp theo quy định pháp luật.

. Qua ý kiến đề xuất xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát, HĐXX xét thấy là có căn cứ nên cần được ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

– Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 179, Điều 227 của Bộ luật tố tụng D sự 2015; Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lê Hoàng D và chị Nguyễn Thị O.

2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Lê Hoàng Quý, sinh ngày 03/9/2007, Lê Hoàng Gia Huy, sinh ngày 10/4/2012 và Lê Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 10/4/2012 cho anh Lê Hoàng D nuôi dưỡng, tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị O.

Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị O không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản và nợ chung: không đặt ra.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc anh Lê Hoàng D phải nộp 300.000đ, anh D đã dự nộp số tiền 300.000đ, theo biên lai thu số 0006708 ngày 15/4/2025 tại Chi cục Thi hành án D sự huyện Đông H, được chuyển thu án phí hết.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày toà tuyên án. Bị đơn chị Nguyễn Thị O vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Cỡ chữ