vanban.org

Bản án 64/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Thạch S và chị Danh Thị Bích P ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh S ly hôn chị P"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – CẦN THƠ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 08-9-2025
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phước Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Dương Thắng.

Ông Trương Thoại Lượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thúy Vy là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bé Năm – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025, về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Thạch S, sinh ngày 03/9/1988.

Nơi cư trú: Ấp C, xã N, thành phố Cần Thơ (ấp C, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng cũ) (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx.

- Bị đơn: Chị Danh Thị Bích P, sinh năm 1993.

Nơi cư trú: ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ (ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cũ) (vắng mặt).

Chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxx.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 02 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Thạch S trình bày:

Anh Thạch S và chị Danh Thị Bích P quen biết, tìm hiểu nhau, sau đó, anh S và chị P đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã A, thành phố Cần Thơ) vào ngày 24 tháng 02 năm 2014. Thời gian đầu, anh S và chị P chung sống hạnh phúc và sinh được 01 người con chung tên Thạch Tiểu Khánh N, sinh ngày 27/11/2014, hiện nay cháu N đang sống chung với chị P. Đến năm 2018, thì phát sinh mâu thuẫn, tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau và sống ly thân từ đó cho đến nay.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nay anh Thạch S yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Thạch S yêu cầu được ly hôn với chị Danh Thị Bích P.

- Về con chung: Anh Thạch S đồng ý giao cháu Thạch Tiểu Khánh N, sinh ngày 27/11/2014 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không có yêu cầu xem xét, giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý vụ án số: 12/TB-TLVA ngày 15 tháng 7 năm 2025 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn chị Danh Thị Bích P, nhưng chị P không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh Thạch S. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với chị P để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị P vắng mặt không có lý do và anh S có yêu cầu Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và cũng không có lời khai của chị P trong hồ sơ vụ án.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án, xét thấy nguyên đơn, bị đơn thường xuyên mâu thuẫn với nhau do bất đồng quan điểm sống, không còn sống chung với nhau, không hàn gắn được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

- Về con chung: Anh S và chị P có 01 người con chung tên Thạch Tiểu Khánh N, sinh ngày 27/11/2014. Hiện nay, cháu N đang chung sống với chị P, đang do chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu N có nguyện vọng được sống chung với chị P và anh S đồng ý giao cháu N cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Thạch Tiểu Khánh N, sinh ngày 27/11/2014 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp. Căn cứ vào khoản 1 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, giành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho anh S mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh S không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

- Về án phí: Anh S có đơn yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thủ tục thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn và thẩm quyền giải quyết: Khi anh Thạch S khởi kiện thì chị Danh Thị Bích P; cư trú tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ). Anh Thạch S có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Danh Thị Bích P và yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung. Anh Thạch S đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ) và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đã thụ lý đơn khởi kiện và thông báo cho anh Thạch S nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và anh Thạch S đã thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định. Như vậy, việc Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ thụ lý đơn khởi kiện của anh Thạch S là đúng thẩm quyền và đúng theo trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn anh Thạch S và bị đơn chị Danh Thị Bích P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Anh Thạch S có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và chị P vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt anh Thạch S và chị Danh Thị Bích P.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Thạch S, sinh ngày 03/9/1988 và chị Danh Thị Bích P, sinh năm 1993 tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 24 tháng 02 năm 2014 nên quan hệ hôn nhân giữa anh Thạch S và chị Danh Thị Bích P là hợp pháp.

Xét lý do xin ly hôn của anh Thạch S, Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng anh S và chị P hạnh phúc được một thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng không còn hạnh phúc, anh S và chị P không còn sống chung với nhau thời gian dài và đã bỏ mặc nhau làm cho tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh S và chị P trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh S.

Về con chung: Anh S và chị P có 01 người con chung tên Thạch Tiểu Khánh N, sinh ngày 27/11/2014. Hiện nay, cháu N đang chung sống với chị P, đang do chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu N có nguyện vọng được sống chung với chị P và anh S đồng ý giao cháu N cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Thạch Tiểu Khánh N, sinh ngày 27/11/2014 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án anh S và chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung đến tròn 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, anh Thạch S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Anh S không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị P.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Anh Thạch S là người có đơn xin ly hôn nên căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, anh S phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Thạch S và chị Danh Thị Bích P ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung tên Thạch Tiểu Khánh N, sinh ngày 27/11/2014 cho chị Danh Thị Bích P trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh Thạch S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Anh S không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị P.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh S và chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

5. Về án phí: Anh Thạch S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006011 ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Cần Thơ). Như vậy, anh Thạch S đã nộp xong án phí.

6. Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ