vanban.org

Bản án 64/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) với bị đơn chị Nguyễn Ngọc Cẩm D về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”:

Buộc chị Nguyễn Ngọc Cẩm D có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) tổng số tiền 58.324.755đ (Năm mươi tám triệu ba trăm hai mươi bốn ngàn bảy trăm năm mươi lăm đồng), trong đó: Số nợ gốc 26.779.859đ, tiền lãi trong hạn 9.754.272đ, lãi quá hạn 20.315.040đ, lãi phạt chậm trả 1.475.584đ. Chị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) kiện bị đơn chị Nguyễn Ngọc Cẩm D về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”:"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) với bị đơn chị Nguyễn Ngọc Cẩm D về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”:
  • Căn cứ chính? Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/DS-ST
Ngày 31/3/2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bạch Gương

Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 658/2024/TLST–DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2025/QĐST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam)

Địa chỉ: Số I, đường P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lee Yun H1 – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Ủy quyền khởi kiện cho: Ông Trần La Ngọc H2 - Chức vụ: Trưởng phòng tố tụng Công ty T1 (Việt Nam)

Uỷ quyền tham gia tố tụng cho: Công ty L; Địa chỉ: Số B, đường L, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Cồ Lê H3 - Chức vụ: Giám đốc.

Ủy quyền lại cho: Ông Nguyễn Đức T - Nhân viên (Vắng mặt - Có đơn xin vắng mặt).

(Theo Giấy ủy quyền số: 287/GUQ-2024 ngày 18/12/2024)

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Ngọc Cẩm D, sinh năm 2001 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố P, phường M, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, hòa giải người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Đức T trình bày:

Ngày 31/8/2022, Công ty T1 (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là: Công ty T1) có ký Hợp đồng tín dụng theo “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 43565751” (sau đây gọi tắt là: Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho chị Nguyễn Ngọc Cẩm D với khoản vay trị giá 31.980.000đ (Ba mươi mốt triệu chín trăm tám mươi ngàn đồng), trong đó bao gồm: 30.000.000đ tiền vay và 1.980.000đ tiền mua phí bảo hiểm khoản vay, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 3,67%/tháng, tương đương 44%/năm, thời hạn vay 24 tháng; từ kỳ thanh toán thứ 1 đến kỳ thanh toán thứ 20 lãi suất 3,67%/tháng, từ kỳ thanh toán thứ 21 đến kỳ thanh toán thứ 24 là 0%/tháng (tương đương 0%/năm). Sau khi ký kết hợp đồng, Công ty T1 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho chị Nguyễn Ngọc Cẩm D, bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng mà chị D đã cung cấp. Theo Hợp đồng tín dụng chị Nguyễn Ngọc Cẩm D có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền 2.037.976đ trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 15/10/2022 đến ngày 15/9/2024. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Ngọc Cẩm D đã thanh toán được 06 kỳ với tổng số tiền 12.340.952đ (Mười hai triệu ba trăm bốn mươi nghìn chín trăm năm mươi hai đồng). Từ ngày 15/4/2023 chị Nguyễn Ngọc Cẩm D đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 đã giải ngân.

Tính đến ngày 31/3/2025, chị Nguyễn Ngọc Cẩm D còn nợ tổng cộng 58.324.755đ trong đó: Số nợ gốc 26.779.859đ, tiền lãi trong hạn 9.754.272đ, lãi quá hạn 20.315.040đ, lãi phạt chậm trả 1.475.584đ.

Do bà D vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện và yêu cầu chị D phải trả cho Công ty T1 tổng số tiền tính đến ngày 31/3/2025 là 58.324.755đ và tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng kể từ ngày 01/4/2025.

Đối với bị đơn chị Nguyễn Ngọc Cẩm D không hợp tác nên không thu thập được lời khai của chị D.

Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình, còn bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ các định chị Nguyễn Ngọc Cẩm D có vay và còn nợ Công ty T1 (Việt Nam) tổng số tiền tính đến ngày 31/3/2025 là 58.324.755đ chưa thanh toán. Do vậy, nguyên đơn Công Tài chính TNHH Một thành viên M khởi kiện là có căn cứ cần chấp nhận. Về án phí giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nhận định:

Về tố tụng:

Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu chị Nguyễn Ngọc Cẩm D phải thanh toán số tiền nợ theo hợp đồng tín dụng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, không có mục đích lợi nhuận nên xác định đây là vụ án dân sự, quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị D có địa chỉ tại khu phố L, phường T, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo quy định tại các Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Người đại diện theo ủy quyền của Công ty T1 (Việt Nam) ông Nguyễn Đức T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Nguyễn Ngọc Cẩm D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy Tòa án xét xử vắng mặt ông T, chị D theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 (Việt Nam) yêu cầu chị Nguyễn Ngọc Cẩm D phải thanh toán tổng số tiền 58.324.755đ và yêu cầu tiếp tục tính lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng, xét thấy:

Hợp đồng tín dụng:

Căn cứ hợp đồng tín dụng số: 3565751 ngày 27/8/2022 thể hiện: chị Nguyễn Ngọc Cẩm D đã vay Công ty T1 số tiền 30.000.000đ và mua bảo hiểm khoản vay cho là 1.980.000đ; lãi suất từ kỳ thanh toán thứ 1 đến kỳ thanh toán thứ 20 lãi suất 3,67%/tháng, từ kỳ thanh toán thứ 21 đến kỳ thanh toán thứ 24 là 0%/tháng (tương đương 0%/năm). Mục đích vay tiêu dùng cá nhân và bảo hiểm người vay vốn. Công ty T1 đã giải ngân cho chị D bằng hình thức chuyển khoản. Xét Công ty T1 là một tổ chức tín dụng nên tổ chức và hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng, việc ký hợp đồng tín dụng nêu trên là phù hợp với quy định của pháp luật. Hợp đồng tín dụng được ký kết dựa trên sự tự nguyện của các bên, không trái quy định hay vi phạm điều cấm của pháp luật nên hợp đồng tín dụng này có hiệu lực.

Mặc dù không thu thập được lời khai của chị D nhưng nguyên đơn thừa nhận bà D đã thanh toán được 06 kỳ với tổng số tiền 12.340.952đ được trừ vào một phần tiền gốc và tiền lãi suất nên cần ghi nhận số tiền trả nợ này. Nhưng từ ngày 06/8/2023 chị Nguyễn Ngọc Cẩm D đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 đã giải ngân là vi phạm nội dung thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.

Về số tiền nợ gốc: Bị đơn chị Nguyễn Ngọc Cẩm D không đến Tòa án nên không thu thập được lời khai. Căn cứ vào hợp đồng tín dụng nêu trên, việc giải ngân và quá trình trả nợ của chị D thì xác định hiện nay chị Nguyễn Ngọc Cẩm D còn nợ tiền gốc là 26.779.859đ nhưng chưa thanh toán. Do vậy, nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện là có căn cứ cần chấp nhận.

Xét yêu cầu tính lãi suất trong hạn, quá hạn, tiền chậm trả:

Công ty T1 (Việt Nam) yêu cầu chị Nguyễn Ngọc Cẩm D phải thanh toán tiền lãi trong hạn 9.754.272đ, lãi quá hạn 20.315.040đ, lãi phạt chậm trả 1.475.584đ, tạm tính đến ngày 31/3/2025, xét thấy:

Theo quy định tại khoản 3.7 và 3.8 Điều 3 của Hợp đồng tín dụng số: 3565751 ngày 27/8/2022 các bên đã thỏa thuận: Lãi suất hàng tháng 3,67%/tháng; Lãi suất theo năm 44%/năm”. Tại Khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và khoản 1, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC quy định: “1. Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất. 2. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất”. Như vậy lãi suất trong hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng được áp dụng theo cơ chế tự thỏa thuận, miễn không chạm mức lãi suất do pháp luật hình sự cấm thì đều được công nhận. Do đó lãi suất trong hạn theo thoả thuận với mức 3,67%/tháng là phù hợp. Việc chị D vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngoài việc thanh toán nợ gốc và lãi trong hạn còn phải thanh toán lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả theo thoả thuận tại Mục 8.3 của “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 3565751 là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, tính đến ngày 31/3/2025 chị D phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi trong hạn 9.754.272đ, lãi quá hạn 20.315.040đ, lãi phạt chậm trả 1.475.584đ và tiếp tục phải thanh toán lãi suất theo hợp đồng tín dụng nêu trên kể từ ngày 01/4/2025 cho đến khi trả hết nợ.

Từ những phân tích nêu trên cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị Nguyễn Ngọc Cẩm D phải trả cho Công ty T1 (Việt Nam) tổng số tiền là 58.324.755đ trong đó: Số nợ gốc 26.779.859đ, tiền lãi trong hạn 9.754.272đ, lãi quá hạn 20.315.040đ, lãi phạt chậm trả 1.475.584đ.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận nên cần buộc bị đơn chị Nguyễn Ngọc Cẩm D nộp án phí dân sự sơ thẩm là 58.324.755 đồng x 5% = 2.916.238đ. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Công ty T1 (Việt Nam).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

+ Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228, 238, 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

+ Các Điều 116, 117, 118, 119, 274, 275, 280, 357, 463, 466 Bộ luật dân sự;

+ Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

+ Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

+ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) với bị đơn chị Nguyễn Ngọc Cẩm D về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”:

+ Buộc chị Nguyễn Ngọc Cẩm D có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) tổng số tiền 58.324.755đ (Năm mươi tám triệu ba trăm hai mươi bốn ngàn bảy trăm năm mươi lăm đồng), trong đó: Số nợ gốc 26.779.859đ, tiền lãi trong hạn 9.754.272đ, lãi quá hạn 20.315.040đ, lãi phạt chậm trả 1.475.584đ. Chị Nguyễn Ngọc Cẩm D tiếp tục phải thanh toán tiền lãi phát sinh, tiền chậm trả theo “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3565751” ký ngày 27/8/2022 kể từ ngày 01/4/2025 cho đến khi trả hết nợ.

2. Về án phí:

+ Chị Nguyễn Ngọc Cẩm D phải nộp 2.916.238đ (Hai triệu chín trăm mười sáu ngàn hai trăm ba mưới tám đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

+ Hoàn trả cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí là 1.061.000đ (Một triệu không trăm sáu mươi mốt ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004176 ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hời hạn thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ