vanban.org

Bản án 64/2025/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 18/09/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/09/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận vi c rút đơn khởi ki n của bà Vi Thị T.

II. Căn cứ vào khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn giải quyết lại vụ án theo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Vi Thị T-Đường Thị T-Tranh chấp quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời tài sản trên đất"
  • Tòa quyết gì? I. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận vi c rút đơn khởi ki n của bà Vi Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/DS-PT
Ngày 18-9-2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất,
công nhận quyền sử dụng đất, yêu
cầu di dời tài sản trên đất

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Thẩm phán: Ông Phùng Đức Chính

Ông Cao Đức Chiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Phương Chi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Loan - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 27/2025/TLPT-DS ngày 27 tháng 8 năm 2025 về vi c Tranh chấp quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời tài sản trên đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn, bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 53/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vi Thị T, sinh năm 1955. Căn cước công dân (viết tắt là CCCD) số 020155000021 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 28-6-2021. Cư trú tại: Xã X (trước đây là xã B huy n N), tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1977. CCCD số 024077010508 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 17-12-2021.Cư trú tại: Khu C xã T (trước đây là thị trấn T, huy n T), tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Bị đơn: Bà Đường Thị T, sinh năm 1960. CCCD số 020160005808 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 20-01-2021. Cư trú tại: Khu C xã T (trước đây là thị trấn T, huy n T), tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Lương Thị H, Luật sư Văn phòng luật sư K thuộc Đoàn luật sư tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Lạng Sơn

Người đại diện hợp pháp: Ông Hoàng V Q, Chuyên viên Phòng Kinh tế xã T, tỉnh Lạng Sơn (văn bản ủy quyền ngày 17-7-2025); vắng mặt.

2. Ông Đặng Vi Đ, sinh năm 1992. CCCD số 020092000073 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 17-12-2021; vắng mặt.

3. Bà Trịnh Thị T sinh năm 1994. CCCD số 038194009974; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Xã X (trước đây là xã B huy n N), tỉnh Thanh Hóa.

4. Ông Đường Văn C1, sinh năm 1971. CCCD số 020071008036 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp; vắng mặt.

5. Ông Đường Văn T1, sinh năm 1973. CCCD số 020073009198 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 30-8-2021; có mặt.

6. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972. CCCD số 020172004755 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp; vắng mặt.

7. Ông Đường Gia P, sinh năm 1991. CCCD số 02009108074 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp; vắng mặt.

8. Ông Đường Văn Q, sinh năm 1995. CCCD số 020095007165 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp; vắng mặt.

9. Ông Đường Văn T2; vắng mặt.

Cùng cư trú tại: Khu C xã T (trước đây là thị trấn T, huy n T), tỉnh Lạng Sơn.

Người kháng cáo: Bà Đường Thị T là bị đơn trong vụ án.

Viện kiểm sát kháng nghị: Vi n trưởng Vi n kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân sự sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Vi Thị T là vợ ông Đặng Văn T (sinh năm 1955 chết ngày 29-4-2014), họ có 01 người con là ông Đặng Vi Đ. Bà Trịnh Thị T là vợ ông Đặng Vi Đ.

Ông Đường Văn B là chồng bà Nguyễn Thị Y (hi n cả hai đều đã chết), ông Đường Văn C2 là con trai của họ. Ông Đường Văn C2 có vợ là bà Hoàng Thị Y (hi n cả hai đều đã chết); họ có 03 người con đó là bà Đường Thị T, ông Đường Văn T1, ông Đường Văn C1. Bà Nguyễn Thị T là vợ ông Đường Văn C1, họ có 02 người con đó là ông Đường Gia P và ông Đường Văn Q.

Ngày 01-6-2001, hộ bà Vi Thị T được Ủy ban nhân dân huy n T, tỉnh Lạng Sơn (viết tắt là UBND huy n) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) đối với di n tích 230,0m2 đất có ký hi u T tại xã Đ huy n T, tỉnh Lạng Sơn. Những thay đổi sau khi cấp giấy: Xác nhận ngày 04-11-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huy n T, tỉnh Lạng Sơn thể hi n: Thay đổi địa chỉ thường trú từ thôn C, xã Đ huy n T, tỉnh Lạng Sơn thành xã B, huy n N, tỉnh Thanh Hóa. Nhà nước thu hồi 129,3m2 đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 2391/QĐ/UB-XD ngày 16-12-2005 của UBND tỉnh. Di n tích còn lại là 100,7m2 theo mã hồ sơ 000.08.08.H37-242100-0005.DT.TH.001.

Theo Sổ mục kê và Bản đồ giải thửa thị trấn T (xã Đ cũ), huy n T, tỉnh Lạng Sơn năm 2006 thể hi n: Thửa đất số 207 có di n tích 3.474,0m2 đất có ký hi u H. Thửa đất số 237 có di n tích 2.764,0m2.

Theo Sổ mục kê và Bản đồ địa chính thị trấn T (xã Đ cũ), huy n T, tỉnh Lạng Sơn năm 2013 thể hi n: Thửa đất số 69 có di n tích 229,4m2, tờ bản đồ 70 (viết tắt là thửa đất số 69) quy chủ sử dụng là hộ ông Đường Văn T2 đã được UBND huy n cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Đường Văn T2 ngày 18-4-2014. Ngày 09-11-2018, UBND huy n có Quyết định số 2919/QĐ-UBND về vi c thu hồi GCNQSDĐ của hộ ông Đường Văn T2 với lý do thu hồi: Vi c cấp GCNQSDĐ không đúng đối tượng sử dụng đất (hi n trạng sử dụng đất tại thửa đất nêu trên là do bà Vi Thị T đang sử dụng).

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 11-3-2025 thể hi n: Đất tranh chấp có di n tích 103,8m2 đất trồng cây lâu năm khác thuộc thửa đất số 69. Tài sản trên đất gồm 01 cây nhãn đường kính gốc 30cm, 01 cây mít đường kính gốc 15cm, 01 cây vả đường kính gốc 15cm mọc tự nhiên, 01 bụi chuối hột gồm 7 cây được bà Đường Thị T trồng vào năm 2006. Đất có trị giá 15.000.000đồng/m2, tài sản trên đất có tổng trị giá là 3.138.000đồng.

Tại Văn bản ngày 31-5-2025 của Giám định viên ông Đàm Văn Tu thể hi n: Hộ bà Vi Thị T được UBND huy n cấp GCNQSDĐ ngày 01-6-2001, với di n tích 230,0m² thửa đất tại xã Đ huy n T, tỉnh Lạng Sơn. Qua xem xét vi c UBND huy n GCNQSDĐ cho hộ bà Vi Thị T theo hình thức tự kê khai. Di n tích 230,0m² được cấp trên giấy không thể hi n số thửa đất, số tờ bản đồ giải thửa hoặc bản đồ địa chính, không thể hi n vị trí, hình thể kích thước thửa đất. Do vậy, với tài li u, chứng cứ cung cấp để thực hi n nội dung giám định thì không có cơ sở xác định được di n tích đất bị thu hồi của bà Vi Thị T và ông Đặng Văn T có thuộc GCNQSDĐ mà UBND huy n đã cấp cho hộ bà Vi Thị T ngày 01-6-2001. Vi c xác định nội dung Nhà nước thu hồi di n tích 129 3m² đất ở tại nông thôn theo GCNQSDĐ do UBND huy n cấp cho hộ bà Vi Thị T ngày 01-6-2001 đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huy n xác nhận ngày 04-11-2024 tại trang 4 của GCNQSDĐ. Về hi n trạng đất thu hồi đã xây dựng hình thành đường Quốc lộ 4A, không còn hi n trạng như tại thời điểm lập Biên bản xác định đất đai bị thu hồi, nhà cửa, vật kiến trúc và cây cối hoa màu bị thi t hại để GPMB xây dựng công trình Xây dựng, cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 4A huy n T, tỉnh Lạng Sơn (giai đoạn 2) ngày 21-12-2004. Giám định viên không có chức năng đo đạc, khôi phục xác định di n tích Nhà nước thu hồi đất di n tích 129 3m² như trên.

Tại cấp sơ thẩm

Tại đơn khởi ki n nguyên đơn bà Vi Thị T khởi ki n bà Đường Thị T yêu cầu được quyền quản lý, sử dụng đối với di n tích 100,7m2 thuộc thửa đất số 69, yêu cầu bà Đường Thị T chấm dứt hành vi tranh chấp đối với di n tích đất trên.

Đất tranh chấp có nguồn gốc thuộc một phần di n tích đất vợ chồng nguyên đơn mua của ông Nguyễn Trung T vào khoảng năm 1989. Phần đất này trước đây là của ông Nguyễn Xuân C là bố ông Nguyễn Trung T để lại. Sau đó, vợ chồng nguyên đơn đã chuyển nhượng cho một số hộ dân xung quanh, cụ thể: Chuyển nhượng cho bà Nông Thị V khoảng 150,0m2; cho ông Hoàng Văn T khoảng 50,0m2; cho bà Nông Thị T khoảng hơn 100,0m2 (không nhớ giá cả) vào sau năm 1991. Di n tích còn lại 230,0m2 gia đình nguyên đơn quản lý, sử dụng, đã thực hi n kê khai và ngày 06-01-2001 hộ bà Vi Thị T được UBND huy n cấp GCNQSDĐ đối với di n tích 230,0m2 đất ở, không thể hi n số thửa và tờ bản đồ.

Đến năm 2004 Nhà nước thu hồi 129,3m2 di n tích đất để mở rộng Quốc lộ 4A gia đình nguyên đơn đã được nhận toàn bộ số tiền đền bù. Nhà nước cũng đã chỉnh lý vi c thu hồi đất tại GCNQSDĐ. Di n tích đất còn lại sau khi Nhà nước thu hồi là 100,7m2 gia đình nguyên đơn tiếp tục quản lý, sử dụng. Đến năm 2004 nguyên đơn chuyển về quê chồng ở tỉnh Thanh Hóa sinh sống và giao lại di n tích đất này cho ông Nguyễn Văn L quản lý trông coi. Năm 2011 khi Nhà nước có chủ trương đo đạc theo dự án để cấp lại GCNQSDĐ nhưng do không có mặt tại địa phương nên ông Đường Văn T2 là người có di n tích đất tiếp giáp với đất của nguyên đơn đã kê khai và được cấp GCNQSDĐ. Sau đó UBND huy n đã thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho ông Đường Văn T2. Từ đó gia đình nguyên đơn vẫn để phần đất này cho ông Nguyễn Văn L quản lý, sử dụng. Năm 2023, ông Nguyễn Văn L xây kè để bảo quản đất thì xảy ra tranh chấp với bị đơn. Sự vi c tranh chấp đất đai đã được chính quyền địa phương hòa giải nhưng không thành.

Sau khi có kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ nguyên đơn xác định đất tranh chấp có di n tích 103,8m2 đất trồng cây lâu năm khác thuộc thửa đất số 69. Trên đất có 01 cây nhãn, 01 cây mít, 01 cây vả mọc tự nhiên; có 01 bụi chuối hột do bị đơn trồng vào năm 2006. Nguyên đơn yêu cầu được quyền quản lý, sử dụng 103,8m2 và tài sản trên đất là cây mọc tự nhiên; yêu cầu bị đơn di dời bụi chuối hột ra khỏi đất và chấm dứt hành vi tranh chấp. Nguyên đơn đã nộp tổng chi phí tố tụng là 23.200.000đồng nguyên đơn đề nghị giải quyết chi phí này theo quy định của pháp luật.

Bị đơn bà Đường Thị T trình bày: Về nguồn gốc đất hi n đang tranh chấp là đất Cốc C, do cụ ông Đường Văn B và cụ bà Nguyễn Thị Y để lại cho bố bị đơn là ông Đường Văn C2. Kể từ khi sinh ra bị đơn đã thấy bố mẹ đẻ canh tác trên di n tích đất trên như trồng mía, chuối, tre.... Nhà ông Nguyễn Xuân C cũng có 01 mảnh đất ở cạnh đất của gia đình bị đơn. Đến khoảng năm 1960 Hợp tác xã thành lập thì bố, mẹ bị đơn góp đất vào Hợp tác xã. Khoảng năm 1968-1969 ông Nguyễn Xuân C đến gặp hỏi mượn đất của bố mẹ bị đơn để xây nhà. Khi ông Nguyễn Xuân C chuẩn bị xây nhà thì Ủy ban nhân dân xã (viết tắt là UBND xã) không cho xây dựng, Ông Nguyễn Xuân C đã phải nhờ bố của bị đơn lên xã xác nhận vi c cho ở nhờ mới được xây dựng tiếp. Sau khi xây nhà ở được một thời gian thì ông Nguyễn Xuân C chuyển lên thị trấn T, huy n T, tỉnh Lạng Sơn sinh sống cùng con là ông Nguyễn Trung T. Năm 1989 ông Nguyễn Trung T tự ý bán di n tích đất này cho vợ chồng nguyên đơn. Bố bị đơn đã đến gặp nguyên đơn nói rõ nguồn gốc đất và ngăn cản nhưng nguyên đơn vẫn nhận chuyển nhượng. Bố bị đơn có đến gặp ông Nguyễn Xuân C nhưng ông Nguyễn Xuân C cho rằng do con trai bán và con trai đang đi tù nên không có căn cứ đối chất và bố bị đơn đã có đơn yêu cầu UBND xã giải quyết tranh chấp năm 1994 nhưng không được giải quyết dứt điểm.

Năm 2004 Nhà nước thu hồi đất để làm đường Quốc lộ 4A, bố bị đơn có ý kiến với đơn vị đo đạc thì được trả lời là sẽ ghi vào biên bản là “di n tích hi n đang tranh chấp” nhưng sau đó chồng nguyên đơn đã nhận toàn bộ tiền đền bù và không chịu trả tiền cho bố bị đơn. Đối với phần di n tích đất mà vợ chồng nguyên đơn đã bán cho các hộ bà Nông Thị T, bà Nông Thị V, ông Hoàng Văn T, bị đơn xác định đây không phải đất của gia đình bị đơn nên bị đơn không có ý kiến gì. Vì vậy, bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn. Bị đơn đề nghị giải quyết chi phí tố tụng mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đặng Vi Đ và bà Trịnh Thị T trình bày: Họ là con trai và con dâu của nguyên đơn họ nhất trí với ý kiến của nguyên đơn và họ đều có đề nghị xét xử vắng mặt trong quá trình tố tụng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đường Văn T1, ông Đường Văn C1, ông Đường Gia P, ông Đường Văn Q, bà Nguyễn Thị T trình bày: Họ là em trai, em dâu, là cháu của bị đơn và đều nhất trí như ý kiến bị đơn đã trình bày.

Ông Đường Văn T2 đã được Tòa án tri u tập hợp l nhưng không tham gia tố tụng và cũng không có ý kiến, yêu cầu gì.

Người đại di n hợp pháp của UBND huy n cho biết: Thửa đất số 69, di n tích là 229,4m² đã được cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Đường Văn T2. Tuy nhiên, qua kiểm tra vi c cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Đường Văn T2 ngày 18-5-2014 là không đảm bảo quy định của pháp luật đất đai nên UBND huy n đã thu hồi GCNQSDĐ đó tại Quyết định số 2919/QĐ-UBND ngày 09-11-2018 vì không đúng đối tượng sử dụng đất (hi n trạng sử dụng đất tại thửa đất nêu trên là do bà Vi Thị T đang sử dụng). Qua kiểm tra bản đồ quy hoạch sử dụng đất của huy n được UBND phê duy t tại Quyết định số 247/QĐ-UBND ngày 23-01-2025 của UBND tỉnh về vi c phê duy t điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 của huy n thì di n tích tranh chấp tại thửa đất số 69 nêu trên nằm trong quy hoạch khu đô thị mới Nam T. Với thửa đất nêu trên trong quá trình giải quyết vụ án nếu di n tích đất tranh chấp được Tòa án giải quyết bằng Bản án có hi u lực pháp luật thì được xem xét để cấp GCNQSDĐ theo quy định Luật Đất đai hi n hành.

Xác minh tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huy n T, tỉnh Lạng Sơn và Ủy ban nhân dân thị trấn T, huy n T, tỉnh Lạng Sơn thì vi c GCNQSDĐ của hộ bà Vi Thị T không có số thửa và khi thu hồi đất để mở rộng Quốc lộ 4A cũng không có số thửa đất là vì thời điểm đó chưa đo đạc bản đồ địa chính. Khi cấp GCNQSDĐ các hộ gia đình tự kê khai, được cơ quan Nhà nước thẩm tra, xác minh theo quy định. Ủy ban nhân dân xã không tìm thấy Bản đồ giải thửa tại khu vực đất có tranh chấp.

Những người làm chứng bà Nông Thị T, ông Hoàng Văn T1 (con ông Hoàng Văn T), bà Nông Thị V đều khẳng định di n tích mà họ đang quản lý và sử dụng được mua với bà Vi Thị T và ông Đặng Văn T vào những năm 1993-1994. Bà Nông Thị T và bà Nông Thị V đã xây nhà kiên cố, còn ông Hoàng Văn T sau khi Nhà nước thu hồi thì di n tích còn lại không đủ để làm nhà, giờ chỉ còn bãi đất trống. Bà Nông Thị T, bà Nông Thị V, ông Hoàng Văn T1 cũng đã kê khai để được cấp GCNQSDĐ nhưng trong GCNQSDĐ mà bà Nông Thị T; bà Nông Thị V và ông Hoàng Văn T1 cũng không có số thửa đất, không có số tờ bản đồ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 17-7-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn đã quyết định:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn cụ thể: Bà Vi Thị T được quyền quản lý và sử dụng 103,8m2 thuộc thửa đất số 69. Buộc bà Đường Thị T chấm dứt hành vi tranh chấp đối với di n tích đất 103,8m2 tại khu C, xã T, tỉnh Lạng Sơn. Bà Vi Thị T được quyền sở hữu những cây mọc tự nhiên di n tích đất 103,8m2 bao gồm 01 cây nhãn, 01 cây mít, 01 cây vả mọc tự nhiên. Buộc bà Đường Thị T di dời hoặc khai thác 01 bụi chuối hột ra khỏi 103,8m2 tại khu C, xã T, tỉnh Lạng Sơn (Chi tiết tại Trích đo địa chính số TĐ 41-2025 kèm theo).

2. Về chi phí tố tụng: Bà Đường Thị T phải chịu số tiền chi phí tố tụng là 23.200.000đồng. Ông Nguyễn Văn L là người đại di n theo ủy quyền của nguyên đơn đã nộp tạm ứng với số tiền là 25.100.000đồng. Do vậy, bà Đường Thị T phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn L số tiền 23.200.000đồng, số tiền thừa 1.900.000đồng ông Nguyễn Văn L đã nhận đầy đủ trước khi bắt đầu mở phiên tòa sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, lãi suất chậm trả, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Trong hạn luật định, Bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị như sau:

1. Bà Đường Thị T là bị đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm, giải quyết cho bị đơn được quản lý và sử dụng toàn bộ di n tích 103,8m2 đất tranh chấp tại thửa đất số 69; được quản lý và sử dụng toàn bộ những cây mọc tự nhiên trên đất.

2. Vi n trưởng Vi n kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn kháng nghị đề nghị hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn do có vi phạm về tố tụng và nội dung.

Tại cấp phúc thẩm:

Đã tiến hành lấy lời khai ông Nguyễn Văn L làm rõ về vi c chuyển nhượng đất giữa nguyên đơn và ông Nguyễn Văn L; tài sản là công trình hi n có trên đất và vi c hòa giải tranh chấp đất đai tại cơ sở theo quy định của pháp luật đất đai.

Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Lạng Sơn tại Văn bản số 884/UBND-KT ngày 17-9-2025 về vi c cung cấp tài li u chứng cứ vụ án dân sự phúc thẩm số 27/2025/TLPT-DS ngày 27-8-2025 thể hi n: Qua rà soát, tìm kiếm hồ sơ tài li u, chứng cứ thì UBND xã không tìm thấy Giấy chuyển nhượng đất ở của bà Vi Thị T chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn L ngày 21-3-2018. UBND xã không tìm thấy hồ sơ tài li u liên quan đến vụ vi c hòa giải tranh chấp đất đai giữa bà Đường Thị T và bà Vi Thị T. Qua liên lạc trao đổi thông tin với công chức địa chính xã Đ cũ thì được cho biết rằng vụ vi c tranh chấp chưa được thực hi n hòa giải giữa bà Vi Thị T và bà Đường Thị T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại di n theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi ki n. Người đại di n của nguyên đơn nhất trí với kháng cáo của bị đơn và kháng nghị của Vi n kiểm sát về vi c hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo luật định.

Bị đơn không đồng ý vi c rút yêu cầu khỏi ki n của nguyên đơn. Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo và nhất trí với nội dung kháng nghị của Vi n kiểm sát.

Bà Lương Thị H là người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Do cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm nghiêm trọng cả về tố tụng và nội dung ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo quy định.

Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng nghị.

Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến về vi c chấp hành pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án cụ thể như sau:

1. Về vi c chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng đã được thực hi n đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

2. Về vi c giải quyết kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ vào các tài li u chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được làm rõ tại phiên tòa xác định Bản án sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, về nội dung đã chỉ ra mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể bổ sung được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đường Thị T; chấp nhận kháng nghị của Vi n trưởng Vi n kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn; hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn giải quyết lại theo quy định. Do hủy bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Phiên tòa được tri u tập hợp l lần thứ nhất, có người tham gia tố tụng vắng mặt nhưng đã có người đại di n hợp pháp có mặt hoặc có đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người này.

Tại phiên tòa phúc thẩm người đại di n hợp pháp của nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi ki n; tuy nhiên, bị đơn không đồng ý. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận vi c rút đơn khởi ki n của nguyên đơn bà Vi Thị T.

Xét kháng cáo của bị đơn, kháng nghị của Vi n trưởng Vi n kiểm sát khu vực 2 - Lạng Sơn, thấy rằng:

Nguyên đơn khởi ki n bị đơn yêu cầu được quyền quản lý, sử dụng 103,8m2 đất tranh chấp thuộc thửa đất số 69 và tài sản trên đất là cây mọc tự nhiên; yêu cầu bị đơn di dời bụi chuối hột ra khỏi đất và chấm dứt hành vi tranh chấp. Xét thấy đây là quan h pháp luật tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và buộc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật vi c thực hi n quyền đối với tài sản. Theo quy định của pháp luật đất đai vi c tranh chấp quyền sử dụng đất phải thực hi n hòa giải tại cơ sở mới đủ điều ki n để thụ lý. Kiểm tra hồ sơ vụ án thấy: Tại Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai ngày 27-8-2024 của Ủy ban nhân dân xã Đ huy n T, tỉnh Lạng Sơn (bút lục số 04-06) theo đơn đề ngày 04-6-2024 của bị đơn bà Đường Thị T thể hi n: Vi c hòa giải tranh chấp đất đai tiến hành giữa bên có đơn yêu cầu giải quyết bà Đường Thị T; bên bị yêu cầu giải quyết ông Nguyễn Văn L. Mặt khác, giữa ông Nguyễn Văn L và gia đình bà Vi Thị T không có quan h họ hàng. Ngoài ra, chính tại Văn bản số 884/UBND-KT ngày 17-9-2025 về vi c cung cấp tài li u chứng cứ vụ án dân sự phúc thẩm số 27/2025/TLPT-DS ngày 27-8-2025 của Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Lạng Sơn cũng khẳng định: Qua liên lạc trao đổi thông tin với công chức địa chính xã Đ cũ thì được cho biết rằng vụ vi c tranh chấp chưa được thực hi n hòa giải giữa bà Vi Thị T và bà Đường Thị T. Như vậy, phần đất đang có tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn chưa được hỏa giải tại cơ sở theo quy định của Luật Đất đai nên chưa đủ điều ki n để thụ lý.

Chính tại Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai ngày 27-8-2024 của Ủy ban nhân dân xã Đ huy n T, tỉnh Lạng Sơn có nội dung: Năm 2018 ông Nguyễn Văn L đã nhận chuyển nhượng toàn bộ phần di n tích đất đang có tranh chấp hi n nay với nguyên đơn và là người quản lý, sử dụng đất từ khi nhận chuyển nhượng đến năm 2024 ông Nguyễn Văn L thực hi n tiến hành đào móng để xây kè trên đất thì bị đơn ngăn cản nên xảy ra tranh chấp. Tại Đơn khởi ki n ngày 12-02-2025 (bút lục 03) chính nguyên đơn cũng khẳng định: Năm 2018 gia đình nguyên đơn đã chuyển giao quyền quản lý, sử dụng cho ông Nguyễn Văn L. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm trong Biên bản hòa giải ngày 08-5-2025, ông Nguyễn Văn L vẫn trình bày là ông đã mua lại di n tích đất tranh chấp với nguyên đơn. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập làm rõ về vi c chuyển nhượng di n tích đất tranh chấp giữa hai bên nên không đưa ông Nguyễn Văn L vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thiếu sót, vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại cấp phúc thẩm, trong Biên bản lấy lời khai ngày 09-11-2025 với ông Nguyễn Văn L có nội dung: Từ năm 2018 ông Nguyễn Văn L đã nhận chuyển nhượng phần đất tranh chấp của nguyên đơn. Hai bên có lập giấy tờ chuyển nhượng nhưng không thông qua chính quyền địa phương. Hi n giấy chuyển nhượng đã thất lạc. Hai bên tuy có thỏa thuận mua bán nhưng chưa trả tiền cho nhau, bao giờ hoàn thi n thủ tục giấy tờ để ông Nguyễn Văn L có tên trên GCNQSDĐ mới phải trả tiền. Số tiền chuyển nhượng cũng chưa xác định. Do cấp sơ thẩm xác định thiếu người tham gia tố tụng nên đương nhiên đã không đề cập, không xem xét đến vi c ủy quyền của nguyên đơn cho ông Nguyễn Văn L có đảm bảo hay không, nhất là vi c quyền và lợi ích của người ủy quyền và người được ủy quyền trong vụ án đối lập nhau là không đúng quy định của pháp luật về vi c ủy quyền tham gia tố tụng.

Bà Đường Thị T, ông Đường Văn T1, ông Đường Văn C1 là con ông Đường Văn C2 và bà Hoàng Thị Y. Bà Nguyễn Thị T là vợ ông Đường Văn C1, họ có 02 người con là ông Đường Gia P và ông Đường Văn Q. Xét thấy, ông Đường Văn C2, bà Hoàng Thị Y chết không để lại di chúc, ông Đường Văn C1 còn sống trên đất tranh chấp cũng không có tài sản do bà Nguyễn Thị T, ông Đường Gia P và ông Đường Văn Q tạo lập; những người này cũng không đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất tranh chấp. Vi c Tòa án cấp sơ thẩm xác định và đưa bà Nguyễn Thị T, ông Đường Gia P và ông Đường Văn Q vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không chính xác, không đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thửa đất số 69 đã được UBND huy n cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Đường Văn T2 ngày 18-4-2014. Tuy nhiên, từ ngày 09-11-2018, UBND huy n có quyết định về vi c thu hồi GCNQSDĐ hộ ông Đường Văn T2 với lý do thu hồi: Vi c cấp GCNQSDĐ không đúng đối tượng sử dụng đất. Ông Đường Văn T2 không có ý kiến gì về vi c thu hồi GCNQSDĐ; không tạo lập tài sản nào trên đất; không đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất tranh chấp. Vi c Tòa án cấp sơ thẩm xác định và đưa ông Đường Văn T2 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không chính xác không đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Trên đất tranh chấp hi n có bờ kè đá do ông Nguyễn Văn L xây dựng năm 2024 thì phát sinh tranh chấp với bị đơn. Công trình trên đất cũng được thể hi n tại Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai ngày 27-8-2024 của UBND xã, cụ thể: Móng công trình do ông Nguyễn Văn L xây dựng trên đất là kè đá dài khoảng 13m, rộng 1,0m. Theo Trích đo xác minh khu đất tranh chấp và Sơ đồ số hóa, chồng ghép bản đồ thể hi n ranh giới theo bờ kè đá hố móng và các hố móng 1, 2 (bút lục số 145-146) nhưng nội dung này không được thể hi n trong Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 11-3-2025 (bút lục số 129-144). Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa làm rõ bờ kè đá các hố móng trên đất tranh chấp. Tại quyết định của Bản án sơ thẩm cũng không nhận định và không quyết định về tài sản này là chưa giải quyết tri t để toàn bộ nội dung của vụ án, vi phạm trong vi c thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cấp sơ thẩm xác định đã tiến hành thu thập tài li u, chứng cứ thể hi n thời điểm gia đình nguyên đơn được cấp GCNQSDĐ chưa đo đạc Bản đồ địa chính nên GCNQSDĐ đã cấp cho nguyên đơn không có số thửa số tờ bản đồ, nên hi n nay không xác định được di n tích đất tranh chấp có thuộc khu đất mà nguyên đơn đã được cấp GCNQSDĐ hay không. Theo Quyết định phê duy t dự toán chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ 4A số 2391/QĐ-UBND ngày 16-12-2005 có nội dung: Ông Đặng Văn T được phê duy t số tiền bồi thường là 98.253.000đồng; tổng di n tích đất ông Đặng Văn T bị thu hồi là 217 3m2 đất ở nông thôn và ghi: Đất đang tranh chấp với chủ hộ Đường Văn C3 (bút lục số 193). Giám định viên tư pháp cũng không có căn cứ xác định di n tích đất bị thu hồi của gia đình nguyên đơn năm 2004 có thuộc khu đất mà nguyên đơn đã được cấp GCNQSDĐ năm 2001 hay không. Mặt khác theo tài li u do nguyên đơn cung cấp thể hi n ngày 04-11-2024 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huy n xác nhận nội dung Nhà nước thu hồi 129 3m2 trên GCNQSDĐ của bà Vi Thị T đối với di n tích 230,0m2 là mâu thuẫn với di n tích thu hồi 217 3m2 trong hồ sơ bồi thường của ông Đặng Văn T nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm làm rõ. Tại mục [3] của Bản án sơ thẩm nhận định: Di n tích đất tranh chấp thuộc một phần di n tích đất gia đình nguyên đơn đã được cấp giấy năm 2001 và là phần di n tích đất còn lại sau khi Nhà nước thu hồi đất năm 2004 là chưa đủ cơ sở vững chắc.

Như vậy cấp sơ thẩm chưa thu thập làm rõ gia đình nguyên đơn có bao nhiêu di n tích đất đã được cấp GCNQSDĐ tại khu vực đất tranh chấp vào thời điểm năm 2001; có bao nhiêu di n tích đất bị thu hồi tại khu C, xã Đ (nay là xã T) tỉnh Lạng Sơn để thực hi n Dự án nâng cấp quốc lộ 4A vào thời điểm năm 2004; di n tích đất bị thu hồi là bao nhiêu vi c chi trả tiền đền bù năm 2004 có vi c tranh chấp giữa nguyên đơn và bố bị đơn hay không kết quả giải quyết như thế nào để làm rõ yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn. Ngoài ra, tài li u trong hồ sơ còn mâu thuẫn với nhau cụ thể: UBND xã xác định không có Bản đồ giải thửa tại khu vực đất tranh chấp (bút lục số 175) nhưng đơn vị đo đạc lại có tài li u về Bản đồ giải thửa khu vực đất tranh chấp nên đã thực hi n Số hóa chồng ghép bản đồ. Theo quy định của pháp luật khi xem xét giải quyết vụ án Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định tính hợp pháp tính có liên quan giá trị chứng minh của từng chứng cứ. Tuy nhiên cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ chưa làm rõ các vấn đề mâu thuẫn như trên nên đương nhiên vi c đánh giá chứng cứ chưa thể đảm bảo khách quan toàn di n đầy đủ và chính xác.

Ông Nguyễn Văn L tham gia tố tụng với tư cách là người được nguyên đơn ủy quyền. Vi c yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ trách nhi m nộp tạm ứng chi phí tố tụng số tiền 23.200.000đồng là của nguyên đơn. Cấp sơ thẩm nhận định do yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng 23.200.000đồng và phải hoàn trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng đó. Tuy nhiên phần quyết định của Bản án sơ thẩm buộc bị đơn phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn L số tiền 23.200.000đồng là mâu thuẫn chưa chính xác và không đúng với quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Năm 2001, hộ bà Vi Thị T được UBND huy n cấp GCNQSDĐ đối với di n tích 230,0m2 đất. Phần quyết định của bản án tuyên bà Vi Thị T được quản lý, sử dụng di n tích đất tranh chấp là không phù hợp, ảnh hưởng đến quyền lợi các thành viên khác của hộ bà Vi Thị T. Đất tranh chấp xác định giải quyết theo Bản đồ địa chính. Bản án sơ thẩm quyết định nguyên đơn được quản lý, sử dụng di n tích đất tranh chấp 103,8m2 thuộc thửa đất số 69 và sở hữu tài sản trên đất nhưng không tuyên quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất là không đảm bảo theo quy định của pháp luật đất đai.

Quyết định của Bản án sơ thẩm buộc bị đơn chấm dứt hành vi tranh chấp, buộc bị đơn phải di dời hoặc khai thác bụi chuối trên 103,8m2 tại khu C, thị trấn T, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã T, tỉnh Lạng Sơn) nhưng không nêu rõ di n tích 103,8m2 thuộc thửa đất, tờ bản đồ nào là chưa đầy đủ khó khăn trong công tác thi hành án.

Từ những nhận định trên nhận thấy, cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng và nội dung, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục, bổ sung được. Để vụ án được giải quyết khách quan, toàn di n và tri t để; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử, xét thấy cần hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung

Quan điểm của Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn đề nghị hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm và giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại là phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Ý kiến của người kháng cáo và những người tham gia tố tụng khác sẽ được xem xét, giải quyết khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Các vấn đề vi phạm trên yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hi n đúng theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Do Bản án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả người kháng cáo số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

I. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận vi c rút đơn khởi ki n của bà Vi Thị T.

II. Căn cứ vào khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Số tiền tạm ứng chi phí tố tụng các đương sự đã nộp và số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm được quyết định khi Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn giải quyết lại vụ án.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đường Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho bà Đường Thị T số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, l phí Tòa án số 0000220 ngày 13-8-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn.

Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ