vanban.org

Bản án 64/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 09/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Huỳnh Gia B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Huỳnh Gia B 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2024. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Huỳnh Gia Bảo - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Huỳnh Gia B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64 /2024/HS-ST
Ngày 09 – 4 – 2024

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đường Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hoàng Liên

2. Bà Nguyễn Thị Minh Trâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thiêm - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Huỳnh Gia B, sinh ngày 08/01/2006 tại Ninh Thuận

Nơi thường trú: Khu phố B, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố E, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc H và bà Huỳnh Thị Kim P; Vợ con chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt từ ngày 09/01/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P – T, tỉnh Ninh Thuận. (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lâm Thế N – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. (có mặt)

Bị hại: Anh Nguyễn Hữu H1, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Thôn L, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Huỳnh Thị Kim P, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Khu phố E, phường T, Tp . - T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt)

Người làm chứng:

- Anh Phạm Huỳnh Gia H2, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Khu phố B, phường Đ, Tp . - T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt)

- Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 02/01/2006. Nơi cư trú: Khu phố A, phường Đ, Tp . - T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt)

- Nguyễn Phi K, sinh ngày 04/12/2007. Nơi cư trú: Khu phố C, phường Đ, Tp . - T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt)

Người đại diện hợp pháp của K: Ông Nguyễn Phi T, sinh năm 1976 (vắng mặt) và bà Nguyễn Thị Nguyệt N1, sinh năm 1975 (có mặt). Cùng nơi cư trú: Khu phố C, phường Đ, Tp . - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 20/9/2023, Phạm Huỳnh Gia B và em Nguyễn Tấn Đ (sinh ngày 02/01/2006, trú tại: khu phố A, phường Đ) đến quán C trên đường N, thuộc khu phố E, phường T, Tp . - T để uống nước thì B nhìn thấy em Nguyễn Phi K (sinh ngày 04/12/2007, trú tại: khu phố C, phường Đ) và em Nguyễn Hữu H1 (sinh năm 2007, trú tại: L, A, N) cũng đi vào quán. Lúc này, B đi đến bên hông quan và gọi K ra nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn trước đó với em K. Thấy vậy, em K đi ra nhưng không gặp B để nói chuyện mà đi qua nhà Phạm Huỳnh Gia H2 (sinh năm 1997, trú tại: khu phố B, phường Đ, là anh trai của B). Khi đó, B đi vào quán C lấy 01 con dao có cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng inox dài 10cm để đánh nhau. Khi thấy em K bỏ đi chỉ còn em H2 ngồi lại, nghĩ H2 đi cùng với em K để đánh mình nên khi em H2 vừa bước ra gần cửa quán thì B đi tới dùng tay kẹp cổ kéo em H2 ra phía trước quán rồi B cầm con dao bằng tay trái đâm 03 nhát, em H2 né người tránh thì bị trúng vào lưng em H2 gây thương tích. Sau đó, em H2 được người dân đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh N để điều trị vết thương.

Tại giai đoạn điều tra, B thừa nhận dùng hung khí đâm 03 nhát trúng vùng lưng bị hại là em H2 nhưng không thừa nhận dùng hung khí là con dao. Đến giai đoạn truy tố, B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 239 ngày 24/10/2023 của Trung tâm Y1, Sở y tế tỉnh N, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của em Nguyễn Hữu H1 là 18%, vết thương thể hiện như sau:

“- Vết thương giữa cột sống tương ứng đốt sống VIII, sẹo liền tốt lõm chéo cơ thể kích thước (1,4x0,3)cm, không ảnh hưởng vận động (01%)

- Vết thương tương ứng khoang liên sườn IX – X gần đường nách sau phải, sẹo liền tốt lõm hướng ngang cơ thể kích thước (1,5x0,5)cm, không ảnh hưởng chức năng (01%)

- Vết thương tương ứng khoang liên sường IV – V đường nách sau phải, sẹo liền tốt lồi chéo cơ thể kích thước (1x0,3)cm, không ảnh hưởng chức năng (01%)

- Vết mổ dẫn lưu khoang liên sườn IV – V, đường nách trước phải sẹo lên khô còn đóng vảy kích thước (1,8x1,2)cm, còn đâu khi thăm khám (02%)

- Tổn thương màng phổi gây tràn khí đã điều trị ổn định không để lại di chứng (03%)

- Rối loạn thông khí hạn chế nhẹ (11%)

Cơ chế hình thành vết thương: Nhận định các tổn thương trên do vật sắc nhọn gây nên. Các tổn thường trên có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, nếu không được cấp cứu chữa trị kịp thời”.

Cáo trạng số: 57/CT – VKSPR ngày 07/3/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T truy tố bị cáo Phạm Huỳnh Gia B về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận diễn biến sự việc xảy ra nhưu nội dung cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm Y1 đối với bị hại Nguyễn Hữu H1. đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

- Bị hại Nguyễn Hữu H1 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về dân sự bị hại đã nhận được số tiền bồi thường, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Huỳnh Thị Kim P trình bày: Bà là mẹ ruột của bị cáo B, số tiền mà B dùng để bồi thường cho bị hại H1 là do B đi làm tiết kiệm được; Do B bị tạm giam nên đã nhờ bà đại diện cho B giao tiền bồi thường cho bị hại.

- Đại diện Viện kiểm sát thành phố P - T vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phạm Huỳnh Gia B phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Huỳnh Gia B từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Giữa các bị cáo và bị hại đã bồi thường xong nên không xem xét.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo có ông bà nội là người có công với Cách mạng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự. Tại thời điểm phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi, khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất so với đề nghị của Viện kiểm sát.

Bị cáo, bị hại không trình bày tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P - T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Huỳnh Gia B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Mặc dù không có mâu thuẫn với Nguyễn Hữu H1 nhưng khoảng 18 giờ ngày 20/9/2023, tại khu vực trước quán C trên đường N, thuộc khu phố E, phường T, Tp . - T; Phạm Huỳnh Gia B đã có hành vi dùng 01 con dao (là hung khí nguy hiểm) đâm 03 nhát trúng vào vùng lưng của H1, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 18%. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống chung xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệ hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông bà nội là người có công với Cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Mặt khác, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 08 tháng 12 ngày, nhận thức pháp luật có phần hạn chế nên Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao có cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng inox dài 10cm, sau khi gây thương tích cho H1, bị cáo đã vứt bỏ nhưng không nhớ rõ vị trí nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi được nên không xem xét, giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường thiệt hại, không còn yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Phạm Huỳnh Gia B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Huỳnh Gia B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Huỳnh Gia B 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2024.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo Phạm Huỳnh Gia B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/4/2024)./.

Cỡ chữ