- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị K-Trịnh Văn S"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Khuyên, cho chị Khuyên được ly hôn anh Trịnh Văn Sơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11-10-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hà
2. Ông Mai Đăng Ninh
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Yến Nhi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nga Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn tham gia phiên tòa:
Bà: Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 141/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXX-ST, ngày 09 tháng 9 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 25 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Trần Thị Khuyên - Sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn 4, xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (có mặt)
2/ Bị đơn: Anh Trịnh Văn Sơn - Sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn 4, xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 14/6/2024, bản tự khai nguyên đơn chị Trần Thị Khuyên trình bày: chị và anh Trịnh Văn Sơn kết hôn với nhau vào ngày 28/10/2016, trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã Nga Văn cấp đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình trái ngược, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân từ ngày 02/10/2023 cho đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không thể duy trì, chị đề nghị ly hôn anh Sơn theo quy định. Về con vợ chồng có 01 con chung là Trịnh Thiên Phúc, sinh ngày 08/4/2017. Sau ly hôn, chị đề nghị được nuôi con, không yêu cầu anh Sơn cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản: chị không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn anh anh Trịnh Văn Sơn: sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật. Nhưng anh Sơn cố tình vắng mặt nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án.
Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên, Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh Sơn vắng mặt nên việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chỉ tiến hành được với nguyên đơn, đồng thời Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Mặc dù anh Sơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Khuyên vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt nhưng chị vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu. Đối với bị đơn anh Sơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai, vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị Khuyên, anh Sơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định.
- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Khuyên, cho chị Khuyên được ly hôn anh Trịnh Văn Sơn. Về con: giao cháu Trịnh Thiên Phúc, sinh ngày 08/4/2017 cho chị Khuyên trực tiếp nuôi dưỡng; anh Sơn không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: chị Khuyên phải chịu án phí DSST theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
* Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Khuyên và anh Trịnh Văn Sơn kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hoà hợp, không còn tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2023 cho đến nay. Xét thấy vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Khuyên, cho chị Khuyên được ly hôn anh Sơn là phù hợp quy định của pháp luật.
Về con: Vợ chồng có 01 con chung là Trịnh Thiên Phúc, sinh ngày 08/4/2017. Sau ly hôn, chị đề nghị trực tiếp nuôi cháu Phúc, không yêu cầu anh Sơn cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét yêu cầu của chị Khuyên về việc nuôi con là hoàn toàn thực tế. Qua xác minh tại UBND xã Nga Văn thì cháu Phúc đang sinh sống cùng chị Khuyên. Xét cháu Phúc còn nhỏ nên rất cần sự chăm sóc từ mẹ. Vì vậy, giao cháu Phúc cho chị Khuyên trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Khuyên không yêu cầu anh Sơn cấp dưỡng nuôi con chung nên miễn xét
Về tài sản và nợ chung: Chị Khuyên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị Khuyên phải chịu án phí DSST về ly hôn theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Khuyên, cho chị Khuyên được ly hôn anh Trịnh Văn Sơn.
2. Về con: Giao cháu Trịnh Thiên Phúc, sinh ngày 08/4/2017 cho chị Khuyên trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Sơn không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Trần Thị Khuyên phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu, ký hiệu BLTU/23, số 0005386, ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn, chị Khuyên đã nộp đủ án phí DSST.
4. Quyền kháng cáo: Chị Khuyên, anh Sơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nga Sơn. - Các đương sự. - Phòng GĐ- KT Tòa án tỉnh. - Chi cục THADS huyện Nga Sơn. - UBND xã Nga Văn. - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân Trần Văn Hà Mai Đăng Ninh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Huệ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Huệ |