- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Ngô Thị Thùy H và bị đơn Hồ Nhật L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Ngô Thị Thùy H được ly hôn anh Hồ Nhật L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30-9-2024 Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hà.
2. Ông Nguyễn Văn Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Cao Thiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện DK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Huân – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện DK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 135/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Thùy H, sinh năm 2003.
Địa chỉ: 2Ô1/47, khu phố P, thị trấn N, huyện DK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Có đơn xin vắng mặt”
Bị đơn: Anh Hồ Nhật L, sinh năm 2001.
Địa chỉ: 6Ô2/25, khu phố A, thị trấn N, huyện DK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện; bản tự khai và trong quá trình tham gia tố nguyên đơn chị Ngô Thị Thùy H trình bày:
Về hôn nhân: Chị Ngô Thị Thùy H và anh Hồ Nhật L kết hôn năm 2020, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện DK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 17/12/2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại Nhà trọ ở khu phố P, thị trấn N, huyện DK. Vợ, chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên bất đồng trong cuộc sống. Hiện nay hai bên đã sống ly thân, chị H đã về nhà cha mẹ sinh sống và anh L cũng về sống với cha mẹ mình cùng ở thị trấn N, huyện DK. Nay, chị H nhận thấy vợ chồng không thể đoàn tụ sống chung và hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyến cho chị H được ly hôn anh L.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị H và anh L có một con chung là Hồ Cẩm T, sinh ngày 11/01/2020, hiện nay đang sống với chị H.
Tại đơn khởi kiện chị H yêu cầu giao cháu T cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Ngày 27/9/2024, chị H đến Tòa án xin thay đổi yêu cầu nuôi con, theo đó chị H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi cháu T và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn – anh Hồ Nhật L vắng mặt trong quá trình tố tụng.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án số 135/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024; các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải kèm theo giấy triệu tập anh L đến Tòa án để làm việc, nhưng anh L đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến về nội dung vụ án. Vì vậy, Tòa án căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại các phiên tòa sơ thẩm là chưa chấp hành pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án có căn cứ chấp nhận yêu yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Ngô Thị Thùy H được ly hôn anh Hồ Nhật L; về con chung, đề nghị giao cháu Hồ Cẩm T cho chị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và anh L không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản và nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Tòa án nhân dân huyện DK nhận định:
. Về tố tụng: Bị đơn anh Hồ Nhật L có nơi cư trú tại thị trấn N, huyện DK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện DK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hô” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Ngô Thị Thùy H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Hồ Nhật L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia các phiên tòa sơ thẩm ngày 13/9/2024 và ngày 30/9/2024, nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt chị H và anh L theo quy định.
. Về hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 120, ngày 17/12/2021 của Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện DK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xác định hôn nhân giữa chị Ngô Thị Thùy H và anh Hồ Nhật L là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau. Hai bên đã sống ly thân không còn phụ thuộc nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Nay, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn anh L. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa giữa chị H và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị H được ly hôn anh L theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị H và anh L có một con chung là Hồ Cẩm T, sinh ngày 11/01/2020. Xét thấy hiện nay cháu T đang sống với chị H và còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ, vì vậy giao cháu T cho chị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.
. Về tài sản và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì nguyên đơn chị Ngô Thị Thùy H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 và khoản 1 Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Ngô Thị Thùy H được ly hôn anh Hồ Nhật L.
2. Về con chung: Giao cháu Hồ Cẩm T, sinh ngày 11/01/2020 cho chị Ngô Thị Thùy H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Hồ Nhật L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc các tổ chức, cá nhân được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phi: Chị Ngô Thị Thùy H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004984 ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện DK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Chị Ngô Thị Thùy H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tổng đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện DK; - Chi cục THADS huyện DK; - UBND thị trấn N; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Văn Duy |