- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản giữa bà H và bà D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2024/DS-ST Ngày 12/12/2024 "V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Thanh Huệ và bà Hồ Thị Thu Uyển.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lâm Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tâm, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 99/2024/TLST-DS ngày 09/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2024/QĐST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị H, sinh năm 1987 – vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông..
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phan Long C, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông – có mặt.
2. Bị đơn: Bà Vũ Thị D, sinh năm 1985 – vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 03/5/2024 cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Thị H và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Phan Long C trình bày:
Bà Phan Thị H là chủ hộ kinh doanh thực hiện ngành nghề kinh doanh thu mua nông sản tại huyện T, ngày 27/12/2020 âm lịch bà Vũ Thị D đã bán cho bà H số lượng tiêu khô là 3.990 kg (Ba nghìn chín trăm chín mươi chín kilogram) đủ dem độ theo tiêu chuẩn, bà D đã nhận đầy đủ số tiền bán tiêu nhưng chưa giao tiêu. Khi bán tiêu hai bên có hẹn đến ngày 30/01/2021 âm lịch bà D sẽ giao đủ số tiêu là 3.990kg cho bà H. Tuy nhiên, khi đến thời hạn thanh toán bà D không trả đủ số tiêu như đã hẹn. Do đó, bà H yêu cầu Toà án buộc bà D trả cho bà H số tiêu khô là 3.990 kg đủ dem và độ.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên quan điểm của mình, yêu cầu Hội đồng xét xử (HĐXX) giải quyết theo quy định pháp luật.
* Đối với bị đơn bà Vũ Thị D:
Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành xác minh bị đơn bà Vũ Thị D có đăng ký hộ khẩu tại Thôn E, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án, bà D vắng mặt tại nơi cư trú. Bị đơn đi đâu, làm gì không báo với chính quyền địa phương. Do đó, Toà án đã niêm yết văn bản tố tụng để xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của Pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Đã thực hiện hoạt động tố tụng đầy đủ từ quá trình thụ lý, lập hồ sơ vụ án; Xác định đúng quan hệ tranh chấp giữa các bên; Tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ; Thẩm phán đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục, trình tự xét xử. Hội đồng xét xử đúng thành phần, không có trường hợp nào phải thay đổi người tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử đã hỏi và tranh luận tại phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật.
Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ các quy định, quyền và nghĩa vụ của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa chấp hành việc tham gia các phiên đối chất, phiên họp về việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải tại Tòa án.
Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điển a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 430, Điều 434 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016 UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phan Thị H, buộc bà Vũ Thị D phải trả cho bà Phan Thị H số tiêu khô là 3.990 kg. Ngoài ra, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến khắc phục khác: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Bà Phan Thị H khởi kiện bà Vũ Thị D trả nợ theo nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa do đó cần xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS). Bà Vũ Thị D cư trú tại: Thôn E, xã T, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
. Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ vào giấy chốt tiêu lập ngày 27/12/2020 âm lịch (tức ngày 08/02/2021) thời hạn thỏa thuận giao tiêu là ngày 30/01/2021 âm lịch. Mặc dù thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản đã hết nhưng các đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu nên Tòa án giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 149 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
. Xét nội dung tranh chấp:
. Về hợp đồng mua bán:
Tại giấy chốt tiêu lập ngày 27/12/2020 thể hiện “Vũ Thị D thôn 5 xã T Đ Đắk Nông có chốt của chị Phan Thị H thu mua nông sản ở tại ngã 3 L với số tiêu là 3990 kg (Ba ngàn chín trăm chín mươi kilogram) đủ dem và độ. hẹn đến ngày 30/1/2021 âm lịch em hoàn trả đủ”. Như vậy, ngày 27/12/2020 âm lịch (tức ngày 08/02/2021) bà Vũ Thị D đã bán cho bà H số lượng tiêu khô là 3.990 kg (Ba nghìn chín trăm chín mươi chín kilogram) đủ dem và độ theo tiêu chuẩn, bà D đã nhận đầy đủ số tiền bán tiêu nhưng chưa giao tiêu. Khi bán tiêu hai bên có hẹn đến ngày 30/01/2021 âm lịch bà D sẽ giao đủ số tiêu là 3.990kg cho bà H.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Vũ Thị D không đến Tòa án làm việc, bà Phan Thị H đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đắk Song trưng cầu giám định của phòng K Công an tỉnh Đ. Tại kết luận giám định số 435/KL-KTHS ngày 19/9/2024 của phòng K Công an tỉnh Đ thể hiện: Chữ ký mang tên Vũ Thị D tại góc dưới bên trái của tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Vũ Thị D trên tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký ra.
Tại Điều 430 Bộ luật dân sự quy định:
“Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán”.
Khi bán tiêu hai bên có hẹn đến ngày 30/01/2021 âm lịch bà D sẽ giao đủ số tiêu là 3.990kg cho bà H. Tuy nhiên, đối chiếu lịch âm dương thì không có ngày 30/01/2021 nên xác định ngày cuối cùng của tháng là ngày 29/01/2021 âm lịch (tức ngày 12/3/2021) là thời hạn bà D phải có nghãi vụ trả cho bà H 3.990 kg tiêu đủ dem độ theo tiêu chuẩn. Đến thời hạn nhưng bà D không trả nên bà H khởi kiện là có căn cứ theo Điều 430, Điều 434 của Bộ luật dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn 3.990 kg tiêu đủ dem độ theo tiêu chuẩn.
. Trong quá trình giải quyết vụ án TAND huyện Đắk Song đã niêm yết các văn bản tố tụng, thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và thông báo về phiên đối chất; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho bà Vũ Thị D. Tuy nhiên, bị đơn bà Vũ Thị D không đến Tòa án làm việc là từ bỏ quyền của mình và phải chịu nghĩa vụ liên quan đến giao dịch dân sự mà mình đã ký kết.
Theo khoản 4 Điều 91 của Bộ Luật tố tụng Dân sự quy định:“Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Do đó, căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định của pháp luật.
. Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song là phù hợp nên chấp nhận.
. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải trả số tiền giám định cho nguyên đơn với số tiền là 10.000.000 đồng.
. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Vũ Thị D phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật dân sự.
Giá tiêu khô tại tỉnh Đắk Nông ngày 12-12-2024 là 147.200 đồng/kg: 3.990kg x 147.200 đồng/kg = 587.328.000 đồng (Năm trăm tám mươi bảy triệu ba trăm hai mươi tám nghìn đồng) vậy án phí dân sự sơ thẩm = 20.000.000 + (587.328.000 - 400.000.000) x 4% = 27.493.120 đồng (Hai mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn một trăm hai mươi đồng) án phí Dân sự sơ thẩm. [7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. [8]. Bà Phan Thị H không yêu cầu chồng của bà Vũ Thị D phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 102, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 430, khoản 2 Điều 149 của Bộ luật dân sự 2015 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H.
Buộc bà Vũ Thị D phải trả cho bà Phan Thị H 3.990 kg (Ba nghìn chín trăm chín mươi kilogram) tiêu khô đủ dem và độ.
(Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015).
2. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Vũ Thị D phải trả số tiền giám định 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) cho bà Phan Thị H.
3. Về án phí:
Buộc bà Vũ Thị D phải nộp 27.493.120 đồng (Hai mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn một trăm hai mươi đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Phan Thị H khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.980.000 đồng (Bảy triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng) theo biên lai số 0004139 ngày 09/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
4. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Song; - VKSND tỉnh Đắk Nông - Chi cục THADS huyện Đắk Song; - Đương sự; - Lưu HS, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Thị Thanh Tâm |