vanban.org

Bản án 64/2023/HSST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trịnh Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trịnh Minh T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2022. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trịnh Minh T có trách nhiệm bồi thƣờng cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền 11.000.000 đồng (mƣời một triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án sơ thẩm - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trịnh Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH H THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 64/2023/HSST
Ngày: 28 - 02 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH H THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Công;

2. Ông Phan Hồng Việt.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 102/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Trịnh Minh T, sinh năm 1985 tại Trà Vinh; nơi ĐKHKTT: Ấp An Bình, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Minh H và bà Lê Thị S (đã chết); bị cáo chƣa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2022 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Bà Huỳnh Thị Mỹ H, sinh năm 1979; địa chỉ: 273/16 khu phố 1, phƣờng H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1974; địa chỉ: 88A/3 khu phố 2, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Ngƣời làm chứng:

1. Bà Nguyễn Diễm K, vắng mặt;

2. Bà Nguyễn Chà M, vắng mặt;

3. Ông Phạm Công N, vắng mặt;

4. Ông Võ Minh L, vắng mặt;

5. Bà Bùi Thị Thu H, vắng mặt;

6. Ông Nguyễn Minh T, vắng mặt;

7. Ông Nguyễn Đình L, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Do không có việc làm, không có tiền tiêu xài nên Trịnh Minh T nảy sinh ý định lừa xin việc cho những ngƣời đang cần tìm việc làm để tìm cơ hội chiếm đoạt tài sản. Thực hiện ý định trên, Tuấn sử dụng số điện thoại 0385.975.323 để tạo tài khoản tiktok tên “coinho” và tài khoản trên mạng xã hội zalo tên “Vựa trái cây miền tây”. T sử dụng tài khoản tiktok để đăng tin tuyển nữ lựa trái cây bao ăn ở, lƣơng 9.000.000 đồng/ tháng, bài đăng có hình ảnh trái cây kèm theo.

Khoảng cuối tháng 9 năm 2022, bà Huỳnh Thị Mỹ H sử dụng mạng xã hội tiktok thì thấy tài khoản tên “coinho” đăng tuyển nhân viên lao động bán trái cây nên H vào xem và kết bạn zalo qua số điện thoại 0822.121.122 của Trịnh Minh T để xin việc làm và đƣợc T đồng ý nhận bà H vào làm việc. Cả hai nhắn tin qua lại nói chuyện tình cảm với nhau đến ngày 12/10/2022, bà H và T hẹn gặp nhau tại khu vực Cầu vƣợt Quang Trung, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 12/10/2022, bà H điều khiển xe mô tô biển số 66M1-226.32 đi đến cầu vƣợt Quang Trung và gọi cho T thì thấy T đi bộ tới, do thấy bà H có xe mô tô nên Tuấn nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của bà H nên nói bà H chở về khu vực Bình Dƣơng. Trên đƣờng đi cả hai ghé nhà nghỉ (không nhớ tên) thuộc khu vực phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để nghỉ ngơi đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì T nói H đi đến quán nƣớc ở gần Bệnh viện Quốc tế Becamex, phƣờng Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để chờ xe tải chở trái cây đến thì H đồng ý. Cả hai ngồi uống nƣớc tại quán nƣớc tại bãi đất trống cách Bệnh viện Quốc tế Becamex khoảng 100m. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T giả vờ hỏi mƣợn xe máy biển số 66M1-226.32 của bà H để đi công việc nên H giao chìa khoá xe cho T. Tuấn điều khiển xe đến Cửa hàng xe máy Anh Tuấn II, địa chỉ: 88A/3, khu phố 2, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để cầm cố với giá 11.000.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Với mục đích chiếm đoạt số tiền cầm cố xe và không có ý định chuộc lại nên biên lai cầm đồ T đã vứt bỏ, sau đó T cắt liên lạc với bà Hằng.

Sau khi xảy ra sự việc bà H nhiều lần liên hệ với T không đƣợc nên đi về phòng trọ tại phƣờng Hiệp Bình Phƣớc, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh và nhờ bà Nguyễn Chà M kết bạn, nhắn tin qua tài khoản zalo của T xin việc làm và hẹn gặp thì T đồng ý. Khoảng 17 giờ ngày 15/10/2022, Nguyễn Chà M gặp Trịnh Minh T tại quán cà phê Hoàn Vũ thuộc khu phố 2, phƣờng Hiệp Bình Phƣớc, thành phố Thủ Đức. Khi M và T đang ngồi uống nƣớc, bà H đến xác nhận đúng T là ngƣời đã lấy xe mô tô của bà H vào ngày 12/10/2022 nên báo cho Công an phƣờng Hiệp Bình Phƣớc, thành phố Thủ Đức đến mời T về làm việc. Qua làm việc xác định địa điểm T chiếm đoạt xe của bà H tại phƣờng Lái Thiêu, thành phố Thuận An nên công an phƣờng Hiệp Bình Phƣớc đƣa bà H cùng với T đến Công an phƣờng Lái Thiêu trình báo. Công an phƣờng Lái Thiêu đã tiếp nhận và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An để thụ lý theo thẩm quyền.

Theo kết luận định giá tài sản và biên bản định giá tài sản ngày 25 tháng 10 năm 2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An kết luận: 01 xe mô tô biển số 66M1-226.32 trị giá 14.500.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 62/CT-VKS-TA ngày 08/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo Trịnh Minh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung v n giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trịnh Minh T từ 09 tháng tù đến 01 năm 03 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Buộc bị cáo có trách nhiệm trả số tiền 11.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Thu H.

Đối với hành vi của bà Nguyễn Thị Thu H là chủ hộ kinh doanh Cửa hàng xe máy Anh Tuấn II, quá trình điều tra xác định bà H không biết nguồn gốc xe mô tô do Trịnh Minh T cầm cố là do Tuấn chiếm đoạt của bà Huỳnh Thị Mỹ H nên không có cơ sở xử lý.

Trong quá trình điều tra, bị hại xác định đã nhận lại tài sản bị cáo chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H là chủ hộ kinh doanh Cửa hàng xe máy Anh Tuấn II không biết nguồn gốc xe mô tô do Trịnh Minh T cầm cố là do Tuấn chiếm đoạt của bà Huỳnh Thị Mỹ H. Bà H đã tự nguyện giao nộp xe mô tô biển số 66M1-226.32 và các giấy tờ liên quan đến việc cầm cố cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An. Bà H yêu cầu bị cáo bồi thƣờng số tiền 11.000.000 đồng mà bà H đƣa cho bị cáo khi cầm chiếc xe mô tô biển số 66M1-226.32.

Bị cáo thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa; bị cáo đồng ý bồi thƣờng cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền 11.000.000 đồng và bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Minh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Nhằm thực hiện mục đích chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác, Trịnh Minh T có hành vi lập tài khoản tiktok và zalo đăng thông tin tuyển dụng không có thật để nhằm mục đích lừa dối để chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác.Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 12/10/2022 tại khu phố Nguyễn Trãi, phƣờng Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, Trịnh Minh T có hành vi giả vờ hỏi mƣợn xe mô tô biển số 66M1-226.32 của bà Huỳnh Thị Mỹ H đi công việc, bà H đồng ý thì T điều khiển xe đến Cửa hàng xe máy Anh Tuấn II để cầm cố với số tiền 11.000.0000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân. Kết quả định giá xác định chiếc xe bị cáo chiếm đoạt của bà Hằng có trị giá 14.500.000 đồng và bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Trịnh Minh T phạm tội với tội danh, điều, khoản nhƣ đã nêu trên là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức đƣợc hành vi lừa dối bị hại để chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật hình sự nhƣng vì tham lam, tƣ lợi, muốn có tiền tiêu xài không phải bằng sức lao động của mình nên bị cáo v n cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự tại địa phƣơng nên cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để bị cáo suy nghĩ lại hành vi phạm tội của mình, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Mức đề nghị hình phạt đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố Thuận An là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Bà Nguyễn Thị Thu H là chủ hộ kinh doanh Cửa hàng xe máy Anh Tuấn II yêu cầu bị cáo bồi thƣờng số tiền cho bà H đã đƣa cho bị cáo khi cầm cố chiếc xe với số tiền 11.000.000 đồng và bị cáo đồng ý bồi thƣờng theo yêu cầu của bà H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với vật chứng của vụ án là xe mô tô biển số 66M1-226.32, quá trình điều tra xác định do bà Huỳnh Thị Mỹ H đứng tên sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã thu hồi và trả lại cho bà Huỳnh Thị Mỹ H kèm theo bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô.

. Đối với hành vi cầm cố tài sản bị cáo chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Thu H, quá trình điều tra xác định bà H không biết nguồn gốc xe mô tô do Trịnh Minh T cầm cố là do T chiếm đoạt của bà Huỳnh Thị Mỹ H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

- Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

- Điều 589 của Bộ luật Dân sự;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trịnh Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Trịnh Minh T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trịnh Minh T có trách nhiệm bồi thƣờng cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền 11.000.000 đồng (mƣời một triệu đồng).

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

3. Về án phí: Bị cáo Trịnh Minh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 550.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ