- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Trương Minh T và đồng phạm phạm tội " Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Trương Minh T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 09 (chín) tháng tù về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật TT hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| sTOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64 /2023/ HSST Ngày 12 / 9 /2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Tiến Dũng
Ông Đặng Thế Quế
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Vận – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vi Ngọc Sơn– Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 12 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2023/TLST – HS ngày 29 tháng 8 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77 /2023/QĐST–HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: 1. Trƣơng Minh T, tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1980 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú: xóm T, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thổ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Minh C và bà Trương Thị H; Vợ: Vi Thị L, Con: 02 người, lớn sinh năm 2007, bé sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 328/2020/HSST ngày 25/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại tại Nhà Tạm giữ – Công an huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An từ ngày 17/5/2023 đến nay.( Có mặt).
2. Vi Văn T, tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 12/12/2004 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú: bản Đ, xã Châu Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vi Văn L và bà Lương Thị D; Vợ, Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự, Nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại tại Nhà Tạm giữ – Công an huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An từ ngày 07/7/2023 đến nay. ( Có mặt).
Ngƣời bị hại: 1. Chị Trƣơng Thị H, sinh năm 1988.
Trú tại: Xóm V, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Có mặt).
2. Chị Mạnh Thị H, sinh năm 1984. Trú tại: Xóm B, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt).
3. ông Hoàng Đỗ V, sinh năm 1954. Trú tại: Khối B, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.(Vắng mặt).
4. Chị Vũ Thị Mỹ X, sinh năm 1994. Trú tại: Xóm K, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An.(Vắng mặt).
5. Anh Vi Văn T, sinh năm 1980. Trú tại: bản N, xã N huyện T, tỉnh Nghệ An.(Vắng mặt).
Người có quyền lợi, Nghĩa vụ liên quan: 1. Anh Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1988. Trú tại: Xóm H, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.(Vắng mặt).
2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1979. Trú tại: Khối M, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt).
3. Anh Đinh Văn T, sinh năm 1986. Trú tại: Xóm C, xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 4 năm 2023, Trương Minh Tuấn đã thực hiện những vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào sáng ngày 13/4/2023, Trương Minh T một mình điều khiển xe máy BKS 37P6 – 348.79, đến xóm V, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An phát hiện nhà chị Trương Thị H, thấy cửa cổng nhà chị H không khóa nên T đã đi vào nhà lục lọi xem có tài sản nhỏ gọn có giá trị để trộm cắp. Tuấn phát hiện một chiếc loa kéo di động màu vàng đen, nhãn hiệu Flozen của gia đình chị H. Sau khi lấy trộm được chiếc loa, T điều khiển xe chở loa đi đến xã C, huyện Q và bán cho anh Nguyễn Ngọc N với số tiền 1.300.000 đồng. Số tiền này T đã tiêu xài hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 51/KL – HĐ ĐGTS ngày 19/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Quỳ Hợp, kết luận 01 chiếc loa kéo nhãn hiệu Flozen, màu đen vàng, được mua từ năm 2021, đã qua sử dụng, có giá trị là 3.500.000 đồng.
Vụ thứ hai: Trương Minh T và Vi Văn T khai nhận: Vào khoảng 7 giờ 30 phút, ngày 17/4/2023, Trương Minh T điều khiển xe máy đến xã C, huyện Q gặp Vi Văn T, cũng là người nghiện chất ma túy. T và T bàn bạc thống nhất cùng nhau trộm cắp tài sản, bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. T chở T đến xóm B, xã C, huyện Q thì phát hiện nhà chị Mạnh Thị H không có người, không khóa cổng, cửa đóng nhưng không khóa, nên T và T đi xe vào dựng ở sân. Sau đó, cả hai đi ra phía sau thì phát hiện 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Maruyama, có dây đeo, đầu có gắn lưỡi sắt kim loại, nên T và T đã trộm chiếc máy cắt cỏ này. T điều khiển xe máy chở T ngồi sau cầm chiếc máy cắt cỏ đến cửa hàng của anh Nguyễn Đình T bán cho anh T được số tiền 230.000đ. Số tiền này, T và T mua ma túy sử dụng hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 58/KL – HĐ ĐGTS ngày 23/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Quỳ Hợp, kết luận 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Maruyama, có dây đeo, đầu có gắn lưỡi sắt kim loại, mua từ năm 2021, đã qua sử dụng, có giá trị là 2.000.000 đồng.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 7 giờ, ngày 22/4/2023, Trương Minh T đang đi bộ tại khu vực khối B, thị trấn Q, huyện Q,tỉnh Nghệ An thì phát hiện tại sân nhà của ông Hoàng Đỗ V có 01 chiếc xe máy hãng Honda, nhãn hiệu Wave alpha, màu trắng đen bạc, BKS 37H1 – 348.79, trên xe còn đang cắm chìa khóa. Quan sát xung quanh không thấy người, T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. T lên xe, bật chìa khóa, nổ máy và điều khiển xe đi thẳng lên xóm Y, xã C, huyện Q. Để tránh phát hiện, T đã tháo biển số xe và ném đi, điều khiển xe máy đã trộm cắp được đi trên Quốc lộ 48A thuộc xã Y, huyện Q. Tại đây, T gặp và đã đồng ý bán xe cho một người đi mua đồ máy móc cũ hỏng (T không biết căn cước, lai lịch) dọc Quốc lộ 48A, thuộc xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An được số tiền 1.100.000 đồng, số tiền này Tuấn đã chi tiêu và mua ma túy sử dụng hết, hiện nay không còn. Về biển kiểm soát sau khi T ném đi đã được phát hiện tại đường cạnh hội trường xóm Y, xã C. Cơ quan CSĐT – Công an huyện Quỳ Hợp đã phát thông báo truy tìm vật chứng là chiếc xe máy trong vụ án hình sự, tuy nhiên chưa có kết quả.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 60/KL – HĐ ĐGTS ngày 23/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Quỳ Hợp, kết luận 01 chiếc xe máy hãng Honda, nhãn hiệu Wave alpha, màu trắng đen bạc, số máy JA39E0980791, số khung 3918KY124245, đăng ký sử dụng từ tháng 4 năm 2019, có giá trị là 13.000.000 đồng.
Vụ thứ tư: Vào khoảng 7 giờ 10 phút, ngày 05/5/2023, Trương Minh T đi bộ dọc Quốc lộ 48A, đoạn qua xã Đ, huyện Q với mục đích trộm cắp tài sản. T đi qua một quán bán đồ ăn sáng thì phát hiện 01 chiếc xe máy hãng Honda, nhãn hiệu Wave RSX, màu trắng đen, BKS 37H1 – 435.87 của chị Vũ Thị Mỹ X dựng trước quán bán đồ ăn sáng. Quan sát thấy xung quanh không có người, T đi đến gần chiếc xe thì thấy chìa khóa đang cắm ở ổ khóa, T lên xe, bất chìa khóa, nổ máy và điều khiển xe chạy lên hướng xã C, huyện Q. Khoảng ba ngày sau thì T bán xe cho một người đi mua đồ máy móc cũ hỏng (T không biết căn cước, lai lịch) dọc Quốc lộ 48A, đoạn qua xã C, huyện Q được số tiền 1.400.000đ, số tiền này Tn đã chi tiêu và mua ma túy sử dụng hết, hiện nay không còn. Cơ quan CSĐT – Công an huyện Quỳ Hợp đã phát thông báo truy tìm vật chứng là chiếc xe máy trong vụ án hình sự, tuy nhiên chưa có kết quả.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 54/KL – HĐ ĐGTS ngày 23/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Quỳ Hợp, kết luận 01 chiếc xe máy hãng Honda, nhãn hiệu Wave RSX, màu trắng đen, số máy JA52E0298488, số khung RLHJA3850MY131844, BKS 37H1 – 435.87, đăng ký sử dụng từ tháng 10 năm 2021, có giá trị là 15.000.000 đồng.
Ngoài bốn vụ trộm cắp tài sản nói trên, vào sáng ngày 10/5/2023, Trương Minh T đến nhà của anh Vi Văn T, sinh năm 1980, trú tại bản N, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An (là anh vợ của Trương Minh T) để hỏi mượn xe máy của anh T. Qua trao đổi thì anh T đồng ý cho T mượn chiếc xe mô tô BKS 37D1 – 00.512, nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu sơn đỏ, đen. Sau khi mượn được xe thì T đi đến xã T, huyện Q để mua ma túy của một người đàn ông không quen biết. Mua được ma túy, T đi xe về huyện Q (ở trong một lán bỏ hoang) để sử dụng ma túy. Đến ngày 15/5/2023, sau khi tiêu hết tiền và không có tiền mua ma túy, T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy trên. T điều khiển xe máy đến nhà anh Đinh Văn T để bán chiếc xe với giá 1.000.000 đồng cho anh T. Số tiền này Tuấn đã tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 55/KL – HĐ ĐGTS ngày 23/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Quỳ Hợp, kết luận 01 chiếc xe máy hãng Honda, nhãn hiệu Wave RSX, màu đen, đỏ, số máy C43E - 6116800, số khung 21BY - 192145, đăng ký sử dụng từ tháng 7 năm 2021, có giá trị là 6.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số 68 /CT – VKS QH ngày 26/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp truy tố Trương Minh T về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự và bị cáo Vi Văn T về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh và Điều luật như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52; Điều 55 Bộ luật hình sự đối với Trương Minh T. Xử phạt bị cáo Trương Minh T từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; 9 tháng đến 12 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt hai tội buộc bị cáo Trương Minh T chấp hành hình phạt chung hai tội là từ 02 năm 9 tháng đến 03 năm 03 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Điều 65 Bộ luật hình sự; Khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự đối với Vi Văn T. Xử phạt Vi Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng đến 18 tháng. Đề nghị trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Vi Văn T nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của bị hại là ông Hoàng Đỗ V có yêu cầu bị cáo Trương Minh T bồi thường thiệt hại tương đương định giá chiếc xe máy bị mất trộm là 13.000.000 đồng. Bị hại là chị Vũ Thị Mỹ X có yêu cầu bị cáo Trương Minh T bồi thường thiệt hại tương đương định giá chiếc xe máy bị mất trộm là 15.000.000 đồng.
Bị hại là chị Mạnh Thị H, chị Trương Thị H đã nhận được tài sản bị mất trộm nên không có yêu cầu nên đề nghị HĐXX không phải xem xét thêm.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: ông Trương Văn G, anh Nguyễn Ngọc N, anh Nguyễn Đình T, anh Đinh Văn T không có yêu cầu gì nên đề nghị HĐXX không phải xem xét thêm.
Bị cáo Trương Minh T nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là sai trái mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
Bị cáo Vi Văn T nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Hợp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên tòa các bị cáo Trương Minh T và Vi Văn T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo Trương Minh T khai nhận: Là người nghiện chất ma túy, không có việc làm ổn định, để có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng, T thường xuyên đi lang thang, lợi dụng sơ hở của người dân để trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Từ đầu tháng 4 năm 2023, Trương Minh T và Vi Văn T đã thực hiện những vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào sáng ngày 13/4/2023, Trương Minh T một mình vào nhà chị Trương Thị H lục lọi xem có tài sản để trộm cắp. T phát hiện một chiếc loa kéo di động màu vàng đen, nhãn hiệu Flozen. Sau khi lấy trộm được chiếc loa, T điều khiển xe chở loa đi đến xã C, huyện Q và bán cho anh Nguyễn Ngọc N với số tiền 1.300.000 đồng. Số tiền này Tuấn đã tiêu xài hết.
Kết luận định giá tài sản xác định 01 chiếc loa kéo nhãn hiệu Flozen, màu đen vàng, được mua từ năm 2021, đã qua sử dụng, có giá trị là 3.500.000 đồng.
Vụ thứ hai: Trương Minh T và Vi Văn T đến nhà chị Mạnh Thị H ở xóm B, xã C, huyện Q lấy trộm 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Maruyama, có dây đeo, đầu có gắn lưỡi sắt kim loại. Sau đó, T điều khiển xe máy chở T ngồi sau cầm chiếc máy cắt cỏ đến cửa hàng của anh Nguyễn Đình T bán cho anh T được số tiền 230.000đ. Số tiền này, T và T mua ma túy sử dụng hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản đã kết luận 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Maruyama, có dây đeo, đầu có gắn lưỡi sắt kim loại, mua từ năm 2021, đã qua sử dụng, có giá trị là 2.000.000 đồng.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 7 giờ, ngày 22/4/2023, Trương Minh T đến nhà ông Hoàng Đỗ V đang khu vực khối B, thị trấn Q, huyện Q,tỉnh Nghệ An trộm cắp 01 chiếc xe máy hãng Honda, nhãn hiệu Wave alpha, màu trắng đen bạc, BKS 37H1 – 348.79. Sau đó, T điều khiển xe đi thẳng lên xóm Y xã C, huyện Q. Để tránh phát hiện, T đã tháo biển số xe và ném đi, điều khiển xe máy đã trộm cắp được đi trên Quốc lộ 48A thuộc xã Y, huyện Q. Tại đây, T gặp và đã bán xe cho một người đi mua đồ máy móc cũ hỏng (T không biết căn cước, lai lịch) dọc Quốc lộ 48A, thuộc xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An được số tiền 1.100.000 đồng, số tiền này T đã chi tiêu và mua ma túy sử dụng hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản, kết luận 01 chiếc xe máy hãng Honda, nhãn hiệu Wave alpha, màu trắng đen bạc, số máy JA39E0980791, số khung 3918KY124245, đăng ký sử dụng từ tháng 4 năm 2019, có giá trị là 13.000.000 đồng.
Vụ thứ tư: Vào khoảng 7 giờ 10 phút, ngày 05/5/2023, Trương Minh Ttrộm cắp chị 01 chiếc xe máy hãng Honda, nhãn hiệu Wave RSX, màu trắng đen, BKS 37H1 – 435.87 của chị Vũ Thị Mỹ X dựng trước quán bán đồ ăn sáng. Sau đó T điều khiển xe chạy lên hướng xã C, huyện Q. Khoảng ba ngày sau thì T bán xe cho một người đi mua đồ máy móc cũ hỏng (T không biết căn cước, lai lịch) dọc Quốc lộ 48A, đoạn qua xã C, huyện Q được số tiền 1.400.000đ, số tiền này T đã chi tiêu và mua ma túy sử dụng hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản kết luận 01 chiếc xe máy hãng Honda, nhãn hiệu Wave RSX, màu trắng đen, số máy JA52E0298488, số khung RLHJA3850MY131844, BKS 37H1 – 435.87, đăng ký sử dụng từ tháng 10 năm 2021, có giá trị là 15.000.000 đồng.
Ngoài ra, vào sáng ngày 10/5/2023, Trương Minh T đã mượn chiếc xe mô tô BKS 37D1 – 00.512, nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu sơn đỏ, đen của anh Vi Văn T. Sau khi mượn được xe thì T đi đến xã T, huyện Q để mua ma túy của một người đàn ông không quen biết. Mua được ma túy, T đi xe về huyện Q (ở trong một lán bỏ hoang) để sử dụng ma túy. Đến ngày 15/5/2023, sau khi tiêu hết tiền và không có tiền mua ma túy, T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy trên. T điều khiển xe máy đến nhà anh Đinh Văn T để bán chiếc xe với giá 1.000.000 đồng cho anh T. Số tiền này Tuấn đã tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản, kết luận 01 chiếc xe máy hãng Honda, nhãn hiệu Wave RSX, màu đen, đỏ, số máy C43E - 6116800, số khung 21BY - 192145, đăng ký sử dụng từ tháng 7 năm 2021, có giá trị là 6.000.000 đồng.
Do đó, các hành vi của Trương Minh T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 và điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Vi Văn T tham gia chiếm đoạt 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Maruyama, có trị giá 2.000.000 đồng nên hành vi của Vi Văn T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” .Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp là có căn cứ pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sở hữu tài sản của những người bị hại. Vụ án xảy ra gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội trên địa bàn. Gây tâm lý lo lắng hoang mang trong quần chúng nhân dân. Cần lên cho các bị cáo mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng cũng cần phân hoá vai trò từng bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để xét xử các bị cáo đúng pháp luật.
Bị cáo Trương Minh T là người giữ vai trò chính trong vụ án vì là người trực tiếp thực hiện các hành vi chiếm đoạt tài sản, có nhân thân xấu nên phải xét xử bị cáo mức án nghiêm, có tình tiết tăng nặng là “phạm tội hai lần trở lên” nhưng có xem xét giảm nhẹ một phần vì: bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Nên cần áp dụng các tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trương Minh T. Bị cáo Vi Văn T giữ vai trò là người giúp sức tích cực nên cũng phải xét xử nghiêm nhưng có xem xét giảm nhẹ một phần về hình phạt vì: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú. Nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vi Văn T.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo hiện nay đang bị tạm giam, điều kiện gia đình kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản mà bị cáo Trương Minh T chiếm đoạt đưa đi bán không thu hồi được là chiếc xe máy ông Hoàng Đỗ V và chị Vũ Thị Mỹ X. Bị hại ông Hoàng Đỗ V và chị Vũ Thị Mỹ X yêu cầu bị cáo Trương Minh T bồi thường thiệt hại bằng trị giá chiếc xe máy bị mất. Cần buộc bị cáo Trương Minh T bồi thường thiệt hại ông Hoàng Đỗ Vũ là 13.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại cho chị Vũ Thị Mỹ X là 15.000.000 đồng. .
Những người bị hại chị Mạnh Thị H, chị Trương Thị H đã nhận được tài sản bị mất trộm và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: ông Trương Văn G, anh Nguyễn Ngọc N, anh Nguyễn Đình T, anh Đinh Văn T không có yêu cầu gì nên HĐXX không phải xem xét thêm.
Về án phí: Bị cáo Trương Minh T và Vi Văn T chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b khoản 1 Điều 175; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự đối với Trương Minh Tuấn.
Xử phạt: Bị cáo Trương Minh T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 09 (chín) tháng tù về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Trương Minh T chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam 17 tháng 5 năm 2023.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự đối với Vi Văn Thành.
Xử phạt: Bị cáo Vi Văn T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vi Văn T cho chính quyền UBND xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Vi Văn T nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584,589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Trương Minh T bồi thường thiệt hại cho ông Hoàng Đỗ V là 13.000.000(Mươi ba triệu)đồng; bồi thường thiệt hại cho chị Vũ Thị Mỹ X là 15.000.000 (Mươi lăm triệu)đồng. .
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật TT hình sự; điểm a khoản
1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Bị cáo Trương Minh T và Vi Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng. Bị cáo Trương Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng).
Kể từ thời điểm bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo và một bị hại. Vắng mặt bốn người bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Các bị cáo và bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 12/ 9/2023. Đối với các bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An, - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An, - VKS ND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; -VKSND huyện Quỳ hợp, - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ hợp, - TH A DS huyện Quỳ hợp, - Bị cáo; -Bị hại ; - lưu HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN Hồ Tiến Dũng Đặng Thế Quế | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Quán Vi Tuấn CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quán Vi Tuấn |