vanban.org

Bản án 64/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 19/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Danh T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Xử phạt bị cáo Danh T 09 (Chín) tháng tù; thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 14/12/2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Danh T - Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 64/2023/HS-ST
Ngày: 19 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Yến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đăng Khoa

2. Bà Chung Kim Sang

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Vẹn – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố Rạch Giá, xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 41/2023/TLST-HS, ngày 10 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2023/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Danh T; sinh ngày 01/01/1986; tại: thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Số 342/44/2 đường Q, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Khmer; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh X và bà Thị T1; bị cáo có vợ là Phan Thị L (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2006.

Tiền sự: không

Tiền án: Ngày 11/02/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Ngày 03/11/2022 chấp hành xong hình phạt, chưa xóa án tích.

* Nhân thân:

- Ngày 11/9/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 17/12/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 bản án là 18 tháng tù, đến cuối năm 2008 chấp hành xong hình phạt, đã xóa án tích.

- Ngày 19/8/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 21/8/2010 chấp hành xong hình phạt, đã xóa án tích.

- Ngày 13/8/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, đến ngày 21/9/2014 chấp hành xong hình phạt, đã xóa án tích.

- Ngày 06/3/2001 bị Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Rạch Giá quyết định đưa vào Trường giáo dưỡng 24 tháng, về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, đến ngày 25/02/2003 chấp hành xong (đã xóa tiền sự).

- Ngày 09/6/2003 bị Ủy ban nhân dân thành phố Rạch Giá quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 10/7/2005 chấp hành xong (đã xóa tiền sự).

Ngày 25/3/2022, có hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản. Ngày 12/9/2022, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố bị can (khi đang chấp hành án trong vụ án khác). Ngày 03/11/2022, chấp hành xong hình phạt và được Cơ quan điều tra cấm đi khỏi cư trú theo lệnh số 164, ngày 03/11/2022, sau đó bỏ trốn. Ngày 14/12/2022, bị bắt truy nã và bị tạm giam theo lệnh số 150, ngày 16/12/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo Danh T: Bà Nguyễn Thúy Lan – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)

* Người bị hại: Anh Nguyễn Khải M, sinh năm 2002 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 89 đường A, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lâm Phú Q, sinh năm 2001 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 906/18 đường T, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

- Bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1969 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 238/9 đường Q, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/02/2022, Danh T bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 06 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Trong thời gian chờ chấp hành án thì vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 25/3/2022, sau khi đã uống rượu T đi đến khu vực đầu hẻm 342 đường Q, phường L, thành phố G thì xảy ra mâu thuẫn cự cãi với Lâm Phú Q. Lúc này, T định đánh Q thì Q bỏ chạy để lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, biển kiểm soát 68S1-719.41 (xe do Q mượn của Nguyễn Khải M để đi rước bạn). Thấy vậy, T liền đẩy ngã xe rồi dùng đá (nhặt ở gần đó) đập nhiều cái vào xe 68S1-719.41 gây hư hỏng nhiều bộ phận. Sau đó, T bỏ về nhà còn Q điện thoại cho M hay rồi cả hai đến Công an phường Vĩnh Lạc trình báo vụ việc. Ngày 12/9/2022, Danh T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố bị can về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản (búc lục số 102-107)

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Việc thu giữ tài liệu, đồ vật:

- 01 (một) mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, biển kiểm soát 68S1-719.41, số khung 740392, số máy 1739896, đã qua sử dụng;

- 02 (hai) cục đá có hình dạng không xác định (bút lục số 133, 136).

* Về xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trao trả cho chủ sở hữu là Nguyễn Khải M 01 (một) mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, biển kiểm soát 68S1-719.41, số khung 740392, số máy 1739896, đã qua sử dụng (Theo Quyết định xử lý vật chứng số 320/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 21/7/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá -bút lục số 68)

* Tại bản kết luận định giá số: 62/KL-HĐĐGTS ngày 30/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá xác định giá trị tài sản bị thiệt hại như sau:

- Cánh yếm chắn gió bên phải bị trầy, giá trị ngày 25/3/2022 là 650.000 đồng;

- Cánh yếm chăn gió bên trái bị bể, trầy, giá trị ngày 25/3/2022 là 640.000 đồng;

- Lườn xe phía dưới bị bể hoàn toàn, giá trị ngày 25/3/2022 là 523.000 đồng;

- Thân xe bên trái bị bể, trầy, bung, giá trị ngày 25/3/2022 là 750.000 đồng;

- Đèn nhan bên trái bị rơi mất, giá trị ngày 25/3/2022 là 247.000 đồng;

- Ốp nhựa mặt ngoài bô xe bị bể, trầy, giá trị ngày 25/3/2022 là 163.000 đồng;

- Mũi chắn bùn trước bị trầy, giá trị ngày 25/3/2022 là 117.000 đồng;

Tổng cộng là: 3.090.000 đồng (ba triệu không trăm chín chục nghìn đồng).

(bút lục số 61, 62, 63)

Quá trình điều tra, truy tố bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản nêu trên.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 5.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường và hiện đã bồi thường xong. (bút lục 114, 140)

* Bản cáo trạng số: 61/CT-VKSRG, ngày 10 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Danh T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất kết quả định giá và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Danh T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 53; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Danh T mức án từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) cục đá có hình dạng không xác định. (Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 17/LNK-CSĐT-ĐTTH ngày 08/02/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá -bút lục số 70)

+ Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong 5.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại, không ai có yêu cầu gì khác nên không đề nghị xem xét.

* Bà Nguyễn Thúy Lan bào chữa cho bị cáo Danh T: Thống nhất với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá truy tố bị cáo Danh T về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự; mức hình phạt từ 09 tháng đến 12 tháng tù đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo rất thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; bản thân bị cáo là người dân tộc Khmer thuộc diện hộ cận nghèo, trình độ học vấn thấp, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do nóng giận nhất thời, bị hại cũng có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án thấp nhất theo mức án mà Viện kiểm sát đã đề nghị.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 25/3/2022, tại khu vực đầu hẻm 342 đường Q, phường L, thành phố G, bị cáo Danh T đã dùng đá đập nhiều cái vào xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, biển kiểm soát 68S1-719.41 của anh Nguyễn Khải M cho anh Lâm Phú Q mượn sử dụng; hậu quả gây hư hỏng nhiều bộ phận, qua định giá tổng giá trị bị thiệt hại là 3.090.000 đồng (Ba triệu không trăm chín mươi nghìn đồng).

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được, kết luận định giá cùng với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Danh T đã phạm vào tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự với khung hình phạt quy định là “……bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Xét cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá truy tố bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát luận tội tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo Danh T đã gây thiệt hại về tài sản cho bị hại, gây mất trật tự trị an và tạo dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân; bản thân bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức để biết được hành vi của mình thực hiện là vi phạm pháp luật; xét về nhân thân bị cáo là người có nhân thân xấu, nhiều lần phạm tội bị đưa ra xét xử nhưng sau khi chấp hành án trở về địa phương bị cáo không biết sửa đổi bản thân lại tiếp tục pham tội với lỗi cố ý; đặc biệt sau khi bị khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo không chấp hành mà lại bỏ trốn cho đến khi bị bắt theo quyết định truy nã đã gây khó khăn, kéo dài cho hoạt động tố tụng; thể hiện ý thức xem thường, bất chấp pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo được tính răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đồng thời bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả xong theo yêu cầu của bị hại, bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; ngoài ra bị cáo là người dân tộc Khmer thuộc diện hộ cận nghèo, có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình.

Xét các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật và mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo Danh T hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe, cải tạo bị cáo, qua đó đảm bảo được tính phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghề nghiệp làm thuê thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã xử lý trao trả tài sản cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Khải M 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, biển kiểm soát 68S1-719.41, số khung 740392, số máy 1739896, đã qua sử dụng (Theo Quyết định xử lý vật chứng số 320/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 21/7/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá); không ai có ý kiến hay yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với các vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng (Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 17/LNK-CSĐT-ĐTTH ngày 08/02/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá) gồm: 02 (hai) cục đá có hình dạng không xác định; Hội đồng xét xử quyết định xử tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Khải M yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại tài sản số tiền 5.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường và đã bõi thường xong; không ai có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Tuyên bố bị cáo Danh T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Danh T 09 (Chín) tháng tù; thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 14/12/2022).

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) cục đá có hình dạng không xác định.

(Vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số: 48/QĐ-VKSRG ngày 10/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá).

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Buộc bị cáo Danh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/4/2023). Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Đăng Khoa

Chung Kim Sang

Huỳnh Kim Yến

Cỡ chữ