vanban.org

Bản án 64/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 26/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Minh P - phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/HS-ST
Ngày: 26 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Mận.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Tuất;

2. Ông Đặng Trường Bảo.

- Thư ký phiên toà: Bà Biện Thị Uyển Nhi - Thư ký Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thái Thoại - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Minh P; tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24 tháng 4 năm 1990 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ học vấn: 8/12; Cha: Đoàn P1, sinh năm 1955; Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1961, cùng trú tại khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Anh chị em ruột có 05 người, Đoàn Minh P là con thứ tư trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Thiên K, sinh năm 1998 (đã ly hôn), trú tại khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Có 02 người con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ chất sinh năm 2019.Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

- Ngày 31/01/2013, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận xử phạt Đoàn Minh P 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2013/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 09/6/2014, hiện đã được xóa án tích.

- Ngày 11 tháng 6 năm 2021 bị Chủ tịch UBND thị trấn L ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã với thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Quyết định số 183/QĐ-UBND).

- Ngày 31/8/2022, Đoàn Minh P có hành vi dùng hung khí đánh chị Nguyễn Thị Thiên K gây thương tích, tuy nhiên chị K từ chối giám định pháp y thương tích nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 14 ngày 06/4/2023.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/7/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T.

Người bị hại: Ông Đoàn P1, sinh năm: 1955; địa chỉ: Khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đoàn P1: Bà Văn Thị M – Luật sư cộng tác viên của Trung tâm pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Thuận.

Người làm chứng:

1/ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961;

2/ Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1959;

3/ Bà Lê Thị H, sinh năm 1954;

4/ Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1982

Cùng trú tại: Khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người làm chứng Nguyễn Thị T có mặt. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại và những người làm chứng còn lại vắng mặt nhưng đều đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 10/6/2023, bà Nguyễn Thị T đi làm rẫy về nhà thì thấy Đoàn Minh P là con trai ruột của bà T đang chửi bới một mình ở trong nhà nên bà không dám vào nhà mà nhờ cháu nội đi qua nhà hàng xóm gọi chồng là ông Đoàn P1 về nhà lấy hộ quần áo để xuống nhà con gái ở nhờ. Khi ông Đoàn P1 vừa đi vào nhà thì bị Đoàn Minh P sử dụng 01 cây rựa dài 88,2 cm, cán bằng tre dài 47,2 cm, lưỡi bằng kim loại dài 41 cm chạy ra chửi bới và giơ lên chém liên tiếp nhiều nhát vào người ông Đoàn P1 trúng vào mặt trước - trong vành tai phải, phần mềm vùng ngực phải, phần mềm 1/3 dưới mặt sau - trong cẳng tay phải, vùng da 1/3 dưới mặt sau cẳng tay phải gây thương tích. Khi thấy ông Đoàn P1 bị thương nằm dưới đất, bà Nguyễn Thị T la lên thì P cầm rựa bỏ chạy ra ngoài đường. Ông Đoàn P1 được hàng xóm đưa đến Trung tâm y tế huyện T điều trị thương tích.

Ngày 12/6/2023, ông Đoàn P1 làm đơn yêu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi cố ý gây thương tích của Đoàn Minh P.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 402/KLTTCT-TTPYBT ngày 27/6/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh B kết luận thương tích của Đoàn P1:

1. Các kết quả chính

- Vết thương phần mềm mặt trước - trong vành tai phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước (2 x 0,1) cm, không co túm vành tai. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.

- Vết thương phần mềm vùng ngực phải đã được điều trị, hiện còn đóng vảy màu nâu kích thước (1,7 x 0,2) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.

- Vết thương phần mềm 1/3 dưới mặt sau - trong cẳng tay phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước (4 x 0,2) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.

- Sây sát da 1/3 dưới mặt sau cẳng tay phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước (1,5 x 0,7) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.

2. Kết luận

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Đoàn P1 tại thời điểm giám định là 6% (Sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác:

+ Các vết thương vành tai phải, ngực phải, cẳng tay phải do vật sắc gây ra; sây sát da cẳng tay phải do vật tày gây ra.

Vật chứng vụ án: 01 cây rựa có tổng chiều dài 88,2 cm, cán bằng tre dài 47,2 cm, lưỡi bằng kim loại dài 41 cm, đầu lưỡi có mấu là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội, hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện T bảo quản không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về dân sự: Ông Đoàn P1 không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKSND-TL ngày 21/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Đoàn Minh P, về tội: “Cố ý gây thương tích” theo các điểm a, d, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát huyện T vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đoàn Minh P như nội dung cáo trạng, khẳng định bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Minh P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng các điểm a, d, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Đoàn Minh P, mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù

* Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Minh P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại – ông Đoàn P1 đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị phạt bị cáo P thật nghiêm minh theo quy định của pháp luật hình sự để cải tạo giáo dục bị cáo và tạo điều kiện cho bị cáo cách ly xã hội thực hiện việc cai nghiện ma túy.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại – Luật sư Văn Thị M có gửi bài phát biểu trình bày các ý kiến như sau:

Thống nhất với cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Đoàn Minh P phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại các điểm a, d, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo là con trai của người bị hại, là người nghiện ma túy, nhiều lần về nhà chửi bới, hành hung người thân trong gia đình, ngày 10/6/2023 đã có hành vi chém cha mình gây thương tích nên đề nghị xử lý nghiêm theo pháp luật, đưa đi cải tạo để có thời gian cai nghiện ma túy, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về xác định hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại tòa, bị cáo Đoàn Minh P2 thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố. Xét, lời khai này của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập và phản ánh trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 10/6/2023, tại khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận, do đã sử dụng ma túy và bực tức chuyện gia đình nên Đoàn Minh P đã có hành vi sử dụng 01 cây rựa dài 88,2 cm là hung khí nguy hiểm chém cha ruột là ông Đoàn P1 gây thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 6% (Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 402/KLTTCT-TTPYBT ngày 27/6/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh B kết luận thương tích của Đoàn P1). Hành vi của bị cáo Đoàn Minh P đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuy nhiên, bị cáo Đoàn Minh P vì cho rằng bị cáo và vợ đã ly hôn, thỏa thuận mỗi người nuôi một người con nhưng cha mẹ bị cáo vẫn nhận chăm sóc cháu đã giao cho vợ cũ bị cáo nuôi nên bị cáo đã sử dụng rựa là hung khí nguy hiểm chém nhiều nhát vào người bị hại là cha ruột của mình gây thương tích. Hành vi của bị cáo bị áp dụng các tình tiết định khung là “dùng huy khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” và phạm tội đối với “cha ruột của mình” theo quy định tại các điểm a, d, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo các điểm a,d,i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hội đồng xét xử nhận thấy, hành vi của bị cáo Đoàn Minh P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc sử dụng ma túy gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của mình, biết rõ người mình định gây thương tích là cha ruột nhưng vẫn dùng rựa chém ông Đoàn P1 gây thương tích. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của ông Đoàn P1, gây mất an ninh trật tự tại nơi cư trú. Do đó cần áp dụng đối với bị cáo một mức hình phạt thật nghiêm khắc theo quy định của pháp luật hình sự, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Đối với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

- Đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Bên cạnh đó, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Đoàn Minh P có quá trình nhân thân không tốt: Bị cáo đã từng bị xét xử về hành vi “Trộm cắp tài sản” và đã từng bị xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức giáo dục tại thị trấn về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” và từng có hành vi hành hung người thân trong gia đình. Cụ thể: Ngày 31/01/2013, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận xử phạt Đoàn Minh P 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2013/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 09/6/2014, hiện đã được xóa án tích. Ngày 11 tháng 6 năm 2021 bị Chủ tịch UBND thị trấn L ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã với thời hạn 03 tháng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” (Quyết định số 183/QĐ-UBND). Ngày 31/8/2022, Đoàn Minh P có hành vi dùng hung khí đánh chị Nguyễn Thị Thiên K gây thương tích, tuy nhiên chị K từ chối giám định pháp y thương tích nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 14 ngày 06/4/2023. Những hành vi nêu trên của bị cáo mặc dù đã được xóa án tích, hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý hành chính. Tuy nhiên, những hành vi đó của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo, bản tính hung hăng, thiếu tôn trọng những người thân trong gia đình. Cho nên khi quyết định hình phạt cần phải áp dụng đối với bị cáo một mức hình phạt thật nghiêm khắc để giáo dục bị cáo chấp hành pháp luật, rèn luyện cho bị cáo trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội.

[5] Về xử lý vật chứng:

Vật chứng trong vụ án là 01 cây rựa có tổng chiều dài 88,2 cm, cán bằng tre dài 47,2 cm, lưỡi bằng kim loại dài 41 cm, đầu lưỡi có mấu là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội, hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện T bảo quản nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[7] Về án phí: Bị cáo Đoàn Minh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Căn cứ vào: Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Minh P phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt:

Căn cứ vào: Các điểm a, d, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Minh P 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 18/7/2023).

3. Về vật chứng:

Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cây rựa có tổng chiều dài 88,2 cm, cán bằng tre dài 47,2 cm, lưỡi bằng kim loại dài 41 cm, đầu lưỡi có mấu.Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành huyện T theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 8 năm 2023 giữa Chi cục thi hành án huyện T với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T.

4. Về án phí:

Căn cứ vào: khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đoàn Minh P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Bị cáo; người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/9/2023).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung.

(Đã giải thích quyền kháng cáo)

Nơi nhận:

Cỡ chữ