vanban.org

Bản án 64/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 28/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Áp dụng điểm b kho n 2 Điều 251; điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS đ i đ i với bị cáo Mai Tiến D.

Áp dụng kho n 1 Điều 251; điểm s kho n 1 Điều 51; điểm h kho n 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS đ i đ i với bị cáo Mai Chí H. Tuyên bố: Bị cáo Mai Tiến D và bị cáo Mai Chí H ph m tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Tiến D và Mai Chí H Mua bán TP chất MT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? [1] Áp dụng điểm b kho n 2 Điều 251; điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS đ i đ i với bị cáo Mai Tiến D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật t tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/HS-ST
Ngày: 28- 9- 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đinh Văn An.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ph m Qu c Tu n và ông Nguy n H i Hà.

- Thư ký phiên toà: Ông Ph m Thành Trung - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Ph m Sỹ Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023, t i trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý s : 56/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023 (Sau đây viết tắt là: 13/9/2023) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s : 60/2023/=QĐXXST-HS ngày 15/9/2023, đ i với các bị cáo:

1. Mai Tiến D, sinh năm 1981 t i Hà Nam; nơi cư trú: Thôn Q, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn H và bà Nguy n Thị N; có vợ là Đỗ Thị Thuý H (đã ly hôn) và có 02 con (cùng sinh năm 2005); tiền án, tiền sự: Không;

- Nhân thân:

+ Ngày 21/12/2005 Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xử ph t 22 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

+ Ngày 25/6/2013 Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xử ph t 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo bị t m giữ từ ngày 19/5/2023 và chuyển t m giam từ ngày 25/5/2023 đến nay; có mặt.

2. Mai Chí H, sinh năm 1988 t i Hà Nam; nơi cư trú: Thôn Q, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn H và bà Nguy n Thị N; vợ; con: Chưa; tiền sự: Không.

- Tiền án: Ngày 23/8/2019 Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xử ph t 28 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Nhân thân:

+ Ngày 01/01/2011 Chủ tịch UBND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đưa đi cai nghiện bắt buộc thời h n 24 tháng.

+ Ngày 25/6/2015 Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành ph Hà Nội xử ph t 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”.

Bị cáo bị t m giữ từ ngày 19/5/2023 và chuyển t m giam từ ngày 25/5/2023 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguy n Thị N, sinh năm 1950; nơi cư trú: Thôn Q2, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

+ Anh Nguy n Tu n K, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

+ Anh Đinh Tiến T, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn T2, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến t i phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mai Tiến D và Mai Chí H (là anh em ruột) là các đ i tượng nghiện ma túy đã thực hiện hành vi bán trái phép ch t ma túy, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Kho ng 09 giờ ngày 18/5/2023, Nguy n Tu n K sử dụng s điện tho i 0345.388.214 gọi điện tho i đến s 0972.348.876 của Mai Tiến D hỏi mua ma túy, nói lóng “Bây giờ em xuống, anh cho em mượn ba trăm” D Hiếu ý K hỏi mua 300.000 đồng ma túy nên đồng ý. Sau đó, K đi bộ đến nhà D ở Thôn Q, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam thì gặp Mai Chí H (là em trai ruột và ở cùng nhà với D), K nói với H đến mua ma túy của D, đồng thời K l y trong người ra 300.000 đồng gồm (03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng) đưa cho H, H cầm tiền đi vào trong nhà gặp D (chưa kịp đưa tiền cho D) thì D l y trong người ra 01 gói ma túy đã chuẩn bị sẵn đưa cho H và nói “Cầm ra đưa cho anh K” H cầm gói ma túy D đưa mang ra cổng đưa cho K, K cầm gói ma túy ra nghĩa trang nhân dân Đ t Mẹ thuộc thôn V1, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam sử dụng hết (chích vào cơ thể), khi vừa sử dụng xong thì bị Lực lượng Công an tỉnh Hà Nam ph i hợp với Công an xã V, huyện L phát hiện lập biên b n vụ việc. Thu giữ t i nền bê tông chỗ K ngồi 01 m nh gi y b c màu vàng (niêm phong bì ký hiệu SD01), 01 xilanh nhựa đã qua sử dụng lo i 6ml/cc có nắp đậy bên trong có dung dịch màu nâu đỏ (niêm phong bì ký hiệu SD02). Ngoài ra còn thu giữ của K 01 chiếc điện tho i di động (Sau đây viết tắt là ĐTDĐ) nhãn hiệu Masstel màu vàng và 06 tờ vé xổ s lôtô Hà Nam lo i 5000 đồng, mở thưởng ngày 18/5/2023 (lần lượt được niêm phong trong các phong bì ký hiệu SD03, SD04).

Lần thứ hai: Kho ng 10 giờ 30 phút ngày 18/5/2023, Đinh Tiến T gọi điện tho i đến s thuê bao 0972.348.876 của Mai Tiến D hỏi mua ma túy, nói lóng là “Em xuống nhé, anh giúp em tí”, D hiểu ý T hỏi mua ma túy nên đồng ý, T nói tiếp “Em có sáu trăm nghìn như hôm qua” (do ngày 17/5/2023 T đã gọi trước cho D hỏi mua ma tuý). D nói “Ừ”. Sau đó, T đi xe ôm đến nhà D thì gặp D đang đứng ở cổng, D đưa cho T 01 gói ma túy được gói bằng gi y b c màu trắng đã chuẩn bị từ trước, T đưa cho D 600.000 đồng gồm (06 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng), T mang gói ma túy vừa mua được ra nghĩa trang nhân dân thuộc thôn Q, xã V, huyện L sử dụng hết (chích vào cơ thể), khi vừa sử dụng xong thì bị Lực lượng Công an tỉnh Hà Nam ph i hợp với Công an xã V, huyện L phát hiện, lập biên b n vụ việc. Thu giữ t i nền bê tông chỗ Đinh Tiến T đang ngồi 01 m nh gi y b c màu trắng (niêm phong trong các phong bì ký hiệu KT01), 01 xilanh nhựa đã qua sử dụng lo i 0,3ml/cc có nắp đậy, bên trong có dung dịch màu nâu đỏ (niêm phong trong các phong bì ký hiệu KT02). Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Masstel màu vàng và 12 tờ vé xổ s lôtô Hà Nam lo i 5000 đồng, mở thưởng ngày 18/5/2023 (lần lượt được niêm phong trong các phong bì ký hiệu KT03, KT04).

Lần thứ ba: Kho ng 15 giờ ngày 18/5/2023, Đinh Tiến T mượn điện tho i của một người xe ôm gọi điện tho i đến s thuê bao 0972.348.876 của Mai Tiến D tiếp tục hỏi mua ma túy và nói “Em có năm trăm, em xuống để cho em”, D Hiếu ý T hỏi mua 500.000 đồng ma túy nên đồng ý. T đi xe ôm đến cổng nhà D đưa cho D 500.000 đồng gồm (hai tờ tiền mệnh giá 200.000đ và một tờ tiền mệnh giá 100.000đ). D cầm tiền của T thì bị Lực lượng Công an tỉnh Hà Nam đến nơi ở của Mai Tiến D, Mai Chí H để thực hiện Lệnh bắt người trong trường hợp khẩn c p, khám xét khẩn c p đ i với D và H. Th y vậy, D đã ném gói ma tuý bán cho T ra ngoài sân.

Quá trình khám xét đã thu giữ: Thu trong ví màu xanh t i phòng ngủ của Mai Tiến D tổng cộng s tiền 4.700.000 đồng gồm nhiều các tờ tiền có mệnh giá khác nhau (niêm phong trong phong bì ký hiệu KX01); thu trong túi quần đùi màu đen của Mai Tiến D treo ngoài dây phơi ở sân 01 túi nilon trong su t bên trong có 17 gói gi y b c màu vàng, bên trong các gói đều có chứa ch t bột màu trắng. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho ch t bột màu trắng trong 17 gói gi y b c màu vàng vào 01 túi nilon trong su t, miệng túi có kẹp nhựa viền màu đỏ (niêm phong trong phong bì ký hiệu KX02); 17 vỏ gi y b c màu vàng được cho vào 01 túi nilon có kẹp nhựa viền màu đỏ (niêm phong trong phong bì ký hiệu KX03); thu trong lòng bàn tay trái của Mai Tiến D s tiền 500.000 đồng gồm (02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng là tiền của Thành vừa đưa để mua ma túy) (được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX04); thu t i sân nhà D các cục ch t bột màu trắng không rõ hình được gom vào trong túi nilon trong su t, miệng túi có kẹp nhựa, viền màu đỏ (niêm phong trong phong bì kí hiệu KX05); m nh gi y báo (niêm phong trong phong bì kí hiệu KX06).

Quá trình bắt giữ còn thu giữ 01 đầu camera, màu trắng, nhãn hiệu HIKVISION, có dán tem ghi s serial C7681815502; 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO màu đen của Mai Tiến D (được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX07); 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone màu đen thu giữ của Mai Chí H (được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX08); 01 căn cước công dân mang tên Mai Tiến D và 01 căn cước công dân mang tên Mai Chí H.

Ngoài ra, Cơ quan C nh sát điều tra (Sau đây viết tắt là CSĐT) - Công an tỉnh Hà Nam còn thu các mẫu sợi tóc có chân của Mai Tiến D (thu trên đầu của Mai Tiến D), được bao gói bằng gi y trắng khổ A4 vô khuẩn; thu các mẫu sợi tóc có chân của Mai Chí H (thu trên đầu của Mai Chí H), được bao gói bằng gi y trắng khổ A4 vô khuẩn, lần lượt được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT01; MT02.

* T i các b n Kết luận giám định s 263, 264, 265/KL-KTHS ngày 23/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận:

- 01 mảnh giấy bạc màu vàng trong phong bì ký hiệu SD01 gửi giám định có bám dính ma túy loại: Heroine; 01 xilanh nhựa màu trắng trong phong bì ký hiệu SD02 gửi giám định có bám dính ma túy loại: Heroine”.

- 01 mảnh giấy bạc màu trắng trong phong bì ký hiệu KT01 gửi giám định có bám dính ma túy loại: Heroine; 01 xilanh nhựa màu trắng trong phong bì ký hiệu KT02 gửi giám định có bám dính ma túy loại: Heroine”.

- Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu KX02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,219 gam, loại Heroine; Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu KX05 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,106 gam, loại Heroine; 01 mảnh giấy báo trong phong bì ký hiệu KX06 gửi giám định có bám dính ma túy, loại Heroine.

* Ngày 19/5/2023, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Hà Nam ra Quyết định trưng cầu giám định t i Viện pháp y Qu c gia - Bộ y tế giám định ADN đ i với: Mẫu tóc thu giữ của Mai Tiến D và Mai Chí H đề so sánh với mẫu ADN để l i trên vỏ các gói gi y b c, vỏ túi nilon đã thu giữ. T i Kết luận giám định ADN s 296/23/KLGĐADN - PYQG ngày 23/5/2023 của Viện Pháp y Qu c gia kết luận:

- ADN thu từ mẫu vật gửi giám định ký hiệu KT01; SD01 trùng khớp hoàn toàn với ADN của Mai Tiến D và không trùng khớp với ADN của Mai Chí H trên tất cả các locus STR đã so sánh;

- ADN thu từ mẫu vật gửi giám định ký hiệu KX02 (Mảnh giấy ghi số 3) trùng khớp với ADN của Mai Chí H trên tất cả các locus STR đã so sánh;

- Không thu được dữ liệu ADN đầy đủ từ các mẫu vật gửi giám định ký hiệu KX02 (các mảnh giấy ghi số 1,2); KX06 trên các locus STR đã phân tích nên không thể so sánh với ADN của Mai Tiến D và Mai Chí H;

- ADN thu từ mẫu vật gửi giám định ký hiệu KX03 là ADN trộn lẫn của nhiều người và không thể tách rời ADN của từng người riêng biệt nên không thể so sánh với ADN của Mai Tiến D và Mai Chí H.

* Về nguồn g c ch t ma túy đã thu giữ trong vụ án, Mai Tiến D khai: Kho ng 19 giờ ngày 17/5/2023, D đi ra khu vực Đập Trung thuộc xã B1, huyện B, tỉnh Hà Nam gặp và mua ma túy của một người đàn ông kho ng 30 tuổi (không biết nhân thân, lai lịch) với s tiền 3.400.000 đồng. Sau đó mang về nhà chia nhỏ s ma túy vừa mua được rồi gói l i bằng gi y b c và gi y báo để sử dụng và bán cho các đ i tượng nghiện để kiếm lời.

* Về vật chứng trong vụ án, quá trình điều tra xác định:

- 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Masstel màu vàng thu giữ của Nguy n Tu n K; 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Masstel màu vàng thu giữ của Đinh Tiến T và 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO màu đen thu giữ của Mai Tiến D. 03 chiếc điện tho i này các đ itượngtrênđềusử dụngđểliênl c muabán trái phép ch t ma túy.

- 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone màu đen thu giữ của Mai Chí H. Xác định là tài s n cá nhân của H, không liên quan đến tội ph m.

- Tổng s tiền 5.200.000 đồng thu giữ của Mai Tiến D. Xác định trong đó có 1.100.000 đồng là tiền do D và H bán trái phép ch t ma túy cho Nguy n Tu n K và Đinh Tiến T. Còn l i 4.100.000 đồng là tiền cá nhân của Mai Tiến D do lao động mà có không liên quan đến vụ án.

- 01 đầu ghi camera, màu trắng, nhãn hiệu HIKVISION. Xác định đây là tài của bà Nguy n Thị N (là mẹ đẻ của Mai Tiến D và Mai Chí H), qua khai thác không có tài liệu liên quan đến vụ án.

- 18 vé xổ s lô tô Hà Nam thu giữ của Nguy n Tu n K và Đinh Tiến T. Xác định các vé xổ s này đều không trúng thưởng. K và T không đề nghị xin l i nên đã được lưu trong hồ sơ vụ án.

- 01 căn cước công dân mang tên Mai Tiến D và 01 căn cước công dân mang tên Mai Chí H. Xác định là gi y tờ hợp pháp của D và H không liên quan đến vụ án.

- Đ i với phong bì niêm phong do Cơ quan giám định hoàn tr được niêm phong trong các phong bì ký hiệu V296KT01; V296KX02; V296KX03; V296KT06 và V296SD01 là mẫu tóc để so sánh với mẫu ADN để l i trên vỏ các gói gi y b c, vỏ túi nilon, không còn giá trị sử dụng.

- Toàn bộ s Heroine và bao gói Cơ quan giám định hoàn tr sau giám định, được niêm phong trong các phong bì, là ch t Nhà nước độc quyền qu n lý c m tàng trữ, lưu hành và là bao gói, dụng cụ sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng.

* Phòng CSĐT tội ph m về ma túy - Công an tỉnh Hà Nam đã ra Quyết định xử ph t vi ph m hành chính bằng hình thức “C nh cáo” đ i với Nguy n Tu n K và Đinh Tiến T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

* Quá trình điều tra Mai Tiến D và Mai Chí H đã khai rõ toàn bộ hành vi đã thực hiện.

T i b n cáo tr ng s 58/CT-VKSLN ngày 13/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy t Mai Tiến D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định t i điểm b kho n 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Mai Chí H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định t i kho n 1 Điều 251 Bộ luật hình sự (Sau đây viết tắt là BLHS).

* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy t đ i với các bị cáo như b n cáo tr ng, không có ý kiến thay đổi hoặc bổ sung gì. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX):

+ Áp dụng điểm b kho n 2 Điều 251và kho n 2 Điều 51 BLHS (đ i với Mai Tiến D); kho n 1 Điều 251 và điểm h kho n 1 Điều 52 BLHS (đ i với Mai Chí H); điểm s kho n 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS đ i với các bị cáo. Xử ph t: Mai Tiến D từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù; Mai Chí H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

+ Hình ph t bổ sung: Áp dụng Điều 35; kho n 5 Điều 251 BLHS đề nghị ph t tiền Mai Tiến D từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng; ph t tiền Mai Chí H từ 2.000.000 đồng đến 3.000.0000 đồng sung, nộp ngân sách Nhà nước.

- Các bị cáo Mai Tiến D và Mai Chí H đã thừa nhận và khai báo toàn bộ di n biến các lần mua bán trái phép ch t ma túy cụ thể về thời gian, địa điểm, cách thức, động cơ, mục đích ph m tội trong ngày 18/5/2023 đúng như nội dung cáo tr ng đã mô t và không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì. Bị cáo Mai Chí H xác định b n thân đã chi tiêu hết s tiền 300.000 đồng bán ma túy cho Nguy n Tu n K và hiện vẫn chưa nộp l i. Các bị cáo đều không có ý kiến gì đ i với các hành vi, quyết định t tụng của cơ quan, người tiến hành t tụng, các b n kết luận giám định và lời khai của những người tham gia t tụng khác, b n thân đã nhận thức rõ sai ph m, đề nghị HĐXX xem xét gi m nhẹ hình ph t.

- Bà Nguy n Thị N trình bầy: Bà là mẹ đẻ và ở cùng nhà với các bị cáo, bà không biết việc các bị cáo mua bán ma túy. Chiếc đầu ghi camera, màu trắng, nhãn hiệu HIKVISION là tài s n cá nhân của bà, sử dụng để ch ng trộm cắp tài s n, bà đề nghị được nhận l i chiếc đầu ghi camerra này vì không liên quan đến vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật t tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa các bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu n i gì đ i với các hành vi, quyết định t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đo n t tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc t tụng cũng như đ m b o việc thực hiện nhiệm vụ, quyền h n và trách nhiệm được giao theo quy định.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo t i phiên tòa hôm nay là phù hợp với nhau về di n biến nội dung vụ án, phù hợp với các văn b n t tụng hình sự khác như: Các biên b n vụ việc, các sơ đồ vị trí, biên b n khám xét, vật chứng thu giữ và các b n kết luận giám định về ma túy, cũng như chính lời khai của các bị cáo trong giai đo n điều tra, ngoài ra còn phù hợp với lời khai của những người tham gia t tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, ph n ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận:

Trong ngày 18/5/2023, t i khu vực cổng nhà Mai Tiến D thuộc thôn Q, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam; Mai Tiến D và Mai Chí H đã bán trái phép ch t ma túy lo i Heroine cho Nguy n Tu n K và Đinh Tiến T. Cụ thể như sau:

Lần thứ nh t: Kho ng 09 giờ Mai Tiến D đưa 01 gói ma túy, lo i Heroine cho Mai Chí H mang ra cổng nhà bán cho Nguy n Tu n K với s tiền 300.000 đồng. S ma túy mua được K đã sử dụng hết.

Lần thứ hai: Kho ng 10 giờ, t i cổng nhà Mai Tiến D đã trực tiếp bán 01 gói ma túy, lo i Heroine cho Đinh Tiến T với s tiền 600.000 đồng. S ma túy mua được T đã sử dụng hết.

Lần thứ ba: Kho ng 15 giờ, t i cổng nhà Mai Tiến D bán 01 gói ma túy, lo i Heroine, kh i lượng 0,106 gam cho Đinh Tiến T với giá 500.000 đồng, nhưng chưa kịp đưa gói Heroine cho T thì bị bị Lực lượng Công an tỉnh Hà Nam ph i hợp với Công an xã V, huyện L phát hiện. Khám xét khẩn c p chỗ ở của Mai Tiến D phát hiện 2,325 gam ma túy, lo i Heroine, D c t giữ mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.

Hành vi nêu trên của Mai Tiến D đã ph m vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội ph m và hình ph t quy định t i điểm b kho n 2 Điều 251 BLHS.

Hành vi nêu trên của Mai Chí H đã ph m vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội ph m và hình ph t quy định t i kho n 1 Điều 251 BLHS.

Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam theo tội danh và khung hình phạt đối với các bị cáo đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi ph m tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm ph m đến chế độ qu n lý đặc biệt của Nhà nước đ i với ch t ma tuý, nh hưởng nghiêm trọng đến kỷ cương pháp luật và gây m t an ninh trật tự t i địa phương. Tội ph m mà các bị cáo thực hiện đã tác động r t x u đến đời s ng con người, làm gi m sút sức lao động trong xã hội và gia tăng tỷ lệ người nghiện ma tuý, phát sinh nhiều tệ n n xã hội và các lo i tội ph m nguy hiểm khác trên địa bàn, gây b t bình trong quần chúng nhân dân.

- Về vai trò trong vụ án: Bị cáo Mai Tiến D là người mua, chia nhỏ ma túy và trực tiếp bán cho những người nghiện nên giữ vai trò thứ nh t; Mai Chí H là người thực hành, giúp D bán 01 gói Heroine nên giữ vai trò thứ hai.

- Về nhân thân: Các bị cáo đều là những người có nhân thân x u. Mai Tiến D đã có 02 tiền án về các tội xâm ph m sở hữu (năm 2015) và Tàng trữ trái phép ch t ma túy (năm 2013), đều đã được xóa án tích; Mai Chí H có 01 tiền sự vào năm 2011 (bị đưa đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng, đã được xóa) và 02 tiền án đều về tội Tàng trữ trái phép ch t ma túy, trong đó có 01 tiền án năm 2019 chưa được xóa án tích.

B n thân các bị cáo đều là những người đã trưởng thành nhưng l i thiếu ý thức trong rèn luyện, luôn thể hiện l i s ng tự do, buông th nên đã sa vào nghiện ngập ma túy, nhiều lần đã bị pháp luật xử lý nghiêm minh nhưng vẫn không l y đó làm bài học kinh nghiệm để tu sửa b n thân mà vẫn b t ch p pháp luật tiếp tục thực hiện hành vi ph m tội. Vì vậy, cần thiết ph i xử lý nghiêm minh, áp dụng hình ph t tù nghiêm khắc đ i với các bị cáo mới có tác dụng c i t o các bị cáo trở thành công dânlương thiện,cũngnhư đáp ứngcôngtácphòngngừatộiph m chungtrongcộngđồng.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Mai Tiến D không ph i chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo Mai Chí H năm 2019 đã bị kết án, chưa được xóa án tích, nay l i tiếp tục ph m tội do c ý nên ph i chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định t i điểm h kho n 1 Điều 52 BLHS.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như t i phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của b n thân và đồng ph m, đồng thời thể hiện sự ăn năn h i c i trước pháp luật, nên các bị cáo được hưởng tình tiết gi m nhẹ theo quy định t i điểm s kho n 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, qua xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú thì bị cáo Mai Tiến D có hoàn c nh gia đình khó khăn, đã ly hôn vợ, đang ph i nuôi dưỡng mẹ già yếu, b n thân là lao động chính trong gia đình, nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết gi m nhẹ quy định t i kho n 2 Điều 51 BLHS. HĐXX sẽ cân nhắc tình tiết này để gi m nhẹ một phần hình ph t cho các bị cáo, t o điều kiện cho các bị cáo yên tâm c i t o, sớm tái hòa nhập cộng đồng và gia đình, cũng như th y được tính nhân đ o của pháp luật đ i với người ph m tội.

Xét th y cần tiếp tục t m giam đ i với các bị cáo để đ m b o thi hành án hình sự, nên Quyết định t m giam mỗi bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 Bộ luật t tụng hình sự .

Về hình phạt bổ sung: Để đ m b o tính răn đe và phòng ngừa chung đ i với tội ph m ma túy trong tình hình hiện nay, xét cần thiết ph i áp dụng hình ph t bổ sung (là ph t tiền) đ i với các bị cáo theo Điều 35 và kho n 5 Điều 251 BLHS. Tuy nhiên, cần xem xét đến vai trò, điều kiện và hoàn c nh kinh tế hiện nay của từng bị cáo để n định mức ph t tiền cho phù hợp.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Đ i với 03 chiếc ĐTDĐ, gồm: 01 chiếc nhãn hiệu Masstel màu vàng thu giữ của Nguy n Tu n K, 01 chiếc nhãn hiệu Masstel màu vàng thu giữ của Đinh Tiến T và 01 chiếc nhãn hiệu OPPO màu đen thu giữ của Mai Tiến D. Đây là phương tiện các đ i tượng K, T và bị cáo D sử dụng để liên l c mua bán trái phép ch t ma túy, còn giá trị sử dụng, nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Đ i với tổng s tiền 5.200.000 đồng thu giữ của Mai Tiến D, HĐXX xác định: Trong đó có 1.100.000 đồng là tiền Mai Tiến D và Mai Chí H bán trái phép ch t ma túy cho Nguy n Tu n K và Đinh Tiến T nên ph i tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước; s tiền còn l i 4.100.000 đồng là tài s n cá nhân của Mai Tiến D do bị cáo lao động mà có, không liên quan đến vụ án, nên tr l i cho bị cáo (nhưng tiếp tục thu giữ để b o đ m nghĩa vụ thi hành án dân sự).

- Đ i với 01 đầu ghi camera, màu trắng, nhãn hiệu HIKVISION. HĐXX xác định: Đây là tài s n của bà Nguy n Thị N (là mẹ đẻ của Mai Tiến D và Mai Chí H), không có tài liệu liên quan đến vụ án, nên tr l i cho bà N.

- Đ i với chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone màu đen thu giữ của Mai Chí H, HĐXX xác định không liên quan đến tội ph m, nên tr l i cho bị cáo H (nhưng tiếp tục thu giữ để b o đ m nghĩa vụ thi hành án dân sự).

- Đ i với các phong bì niêm phong có ký hiệu V296KT01; V296KX02; V296KX03; V296KX06 và V296SD01 là mẫu tóc để so sánh với mẫu ADN để l i trên vỏ các gói gi y b c, vỏ túi nilon, không còn giá trị sử dụng và toàn bộ s Heroine cùng bao gói được hoàn tr sau giám định, được niêm phong trong các phong bì s 263/KTHS, 264/KTHS, 265/KTHS là ch t Nhà nước c m tàng trữ, lưu hành cùng bao gói, dụng cụ sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng. Do đó, tịch thu và tiêu huỷ toàn bộ s vật chứng nêu trên.

- Đ i với 02 căn cước công dân mang tên Mai Tiến D và Mai Chí H, HĐXX xác định: Đây là gi y tờ tùy thân của D và H, nên tr l i các bị cáo. Căn cứ Luật căn cước công dân giao cho Cơ quan thi hành án ph t tù có thẩm quyền nơi các bị cáo ch p hành án ph t tù t m giữ 02 thẻ căn cước công dân trên vàtr l ichocácbịcáo khicácbịcáoch phànhxongánph ttù.

* Ngoài ra, đ i với 18 vé xổ s lô tô Hà Nam thu giữ của Nguy n Tu n K và Đinh Tiến T, HĐXX xác định các vé xổ s này đều không trúng thưởng. Anh K, anh T không đề nghị nhận l i và đã được lưu trong hồ sơ vụ án.

* Đ i với s tiền 300.000 đồng bán ma túy cho Nguy n Tu n K. Bị cáo Mai Chí H đã nhận và sử dụng cá nhân hết, hiện chưa thu giữ được. Do đó, ph i truy thu s tiền này đ ivớibịcáo H đểsung,nộpngânsách Nhànước.

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo ph i nộp theo quy định pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác:

Đ i với Đinh Tiến T và Nguy n Tu n K là những người đã mua ma túy và đã sử dụng hết. Đ i với lần thứ hai T mua ma túy của D nhưng chưa kịp nhận được ma túy thì bị phát hiện. Xét nhân thân của Đinh Tiến T và Nguy n Tu n K nên Phòng CSĐT tội ph m về ma túy - Công an tỉnh Hà Nam đã ra Quyết định xử ph t vi ph m hành chính bằng hình thức “C nh cáo” đ i với Nguy n Tu n K và Đinh Tiến T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng quy định của pháp luật, nên HĐXX không đề cập.

Đ i với đ i tượng đã bán trái phép ch t ma túy cho Mai Tiến D như D đã khai. Do chỉ có duy nh t lời khai của bị cáo, ngoài ra không có b t cứ thông tin, tài liệu, chứng cứ gì khác để chứng minh, nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ điều tra, làm rõ để xử lý theo pháp luật. Do đó, HĐXX không đề cập.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng điểm b kho n 2 Điều 251; điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS đ i đ i với bị cáo Mai Tiến D.

Áp dụng kho n 1 Điều 251; điểm s kho n 1 Điều 51; điểm h kho n 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS đ i đ i với bị cáo Mai Chí H.

Tuyên bố: Bị cáo Mai Tiến D và bị cáo Mai Chí H ph m tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt:

Bị cáo Mai Tiến D 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời h n ch p hành hình ph t tù tính từ ngày 19/5/2023.

Bị cáo Mai Chí H 04 (Bốn) năm tù. Thời h n ch p hành hình ph t tù tính từ ngày 19/5/2023.

[2] Hình ph t bổ sung:

Áp dụng Điều 35; kho n 5 Điều 251 BLHS: Ph t tiền bị cáo Mai Tiến D 3.000.000 (ba triệu) đồng; ph t tiền bị cáo Mai Chí H 2.000.000 (hai triệu) đồng sung, nộp ngân sách Nhà nước.

[3] Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật t tụng hình sự.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Masstel màu vàng (được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu ĐT03, mặt trước có ghi “Điện tho i sau khai thác của K” của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam); 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Masstel màu vàng (được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu ĐT04, mặt trước có ghi “Điện tho i sau khai thác của T” của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam); 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO màu đen thu giữ của Mai Tiến D (được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu ĐT01, mặt trước có ghi “Điện tho i của D” của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam) và s tiền 1.100.000 (Một triệu một trăm nghìn) đồng.

- Trả lại cho bị cáo Mai Tiến D: S tiền 4.100.000 đồng (Bốn triệu một trăm nghìn) đồng, nhưng tiếp tục thu giữ để b o đ m nghĩa vụ thi hành án dân; 01 căn cước công dân s 035081002493 mang tên Mai Tiến D do Cục C nh sát QLHC về TTXH c p ngày 08/5/2021 (Giao Cơ quan thi hành án phạt tù nơi bị cáo chấp hành án phạt tù tạm giữ căn cước công dân trên và trả lại cho Mai Tiến D khi bị cáo chấp hành xong án phạt tù).

- Trả lại cho bị cáo Mai Chí H: 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone màu đen (được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu DDT02, mặt trước có ghi “Điện tho i của H” của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam, nhưng tiếp tục thu giữ để b o đ m nghĩa vụ thi hành án dân sự); 01 căn cước công dân s 035088002299 mang tên Mai Chí H do Cục C nh sát QLHC về TTXH c p ngày 31/01/2023 (Giao Cơ quan thi hành án phạt tù nơi bị cáo chấp hành án phạt tù tạm giữ căn cước công dân trên vàtrảlạicho MaiChí Hkhibịcáo chấphành xongánphạttù).

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị N: 01 đầu ghi camera, màu trắng, nhãn hiệu HIKVISION, có dán tem ghi s serial: C76818155 được niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.

- Tịch thu và tiêu hủy:

+ 01 (Một) phong bì niêm phong có s 264/KTHS, mặt trước phong bì ghi: “Mẫu vật hoàn tr KT02" của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Nam.

+ 01 (Một) phong bì niêm phong có s 263/KTHS, mặt trước phong bì ghi: “Mẫu vật hoàn tr SD02" của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Nam.

+ 02 (Hai) phong bì niêm phong có s 265/KTHS, mặt trước các phong bì ghi: “Mẫu vật hoàn tr KX05” và “Mẫu vật hoàn tr KX02” của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Nam.

+ 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu V296KX03 của Công an xã Văn Lý huyên Lý Nhân, tỉnh Hà Nam và Viện Pháp y qu c gia.

+ 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu V296KX02 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Nam và Viện Pháp y qu c gia.

+ 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu V296KX06 của Phòng Kỹ thuật hình sư, Công an tỉnh Hà Nam và Viện Pháp y qu c gia.

+ 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu V296KT01của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Nam và Viện Pháp y qu c gia.

+ 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu V296SD01 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Nam và Viện Pháp y qu c gia.

(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 13/9/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an huyện Lý Nhân và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân; Số tiền xử lý nêu trên hiện đang gửi giữ tại ủy nhiệm chi số 16 lập ngày 13/9/2023 trong tài khoản số 3949.0.1036366 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân tại Kho bạc Nhà nước huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam).

- Truy thu, sung nộp ngân sách Nhà nước đối với bị cáo Mai Chí H: S tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

[3] Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật t tụng hình sự; Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c Hội:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Mai Tiến D và Mai Chí H mỗi bị cáo ph i nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo b n án trong thời h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo b n án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày nhận được b n án hoặc ngày b n án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ