vanban.org

Bản án 64/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước Tuyên án 11/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo N H T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo N H T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo N H T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỚN QUẢN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/HS-ST
Ngày: 11 - 8- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Đình Thuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Nguyễn Đình Như

2. Ông Trần Trọng Vĩnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2023/HSST ngày 05 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST- HS ngày 25/7/2023 đối với bị cáo:

N H T, sinh năm 1989 tại: Thành phố H C M.

Tên gọi khác: Đ; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: 62/93D đường H TC, tổ A, khu phố 2, phường 19, quận B, thành phố H C M; Nơi tạm trú: tổ 01, ấp T T, xã T L, thị xã BL, tỉnh Bình Phước; CCCD: số 079089004540, Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Nghề nghiệp: Sơn nước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 05/12; Cha: N V H ( Hiện đã chết); Mẹ: B T N Đài, sinh năm: 1968, bị cáo có 01 người em ruột sinh năm 1991. Vợ: Ngô Thị Ngọc G, sinh năm: 1991; Con ruột: Có 01 người con sinh năm 2010, nơi ở: Không xác định ( do vợ, con đã bỏ đi); Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 25/07/2017 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng, ngày 06/11/2018 chấp hành xong.

Ngày 18/04/2023 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ngày 19/04/2023 bị tạm giữ và bắt trong trường hợp khẩn cấp, ngày 21/04/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hớn Quản ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh T M K – Sinh năm 1988

Địa chỉ: Tổ 2, khu phố 2, thị trấn T K, huyện HQ, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh L Q H, sinh năm 1981.

Địa chỉ: khu phố 3B, phường M H, thị xã C T, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào cuối năm 2018 sau khi đi cai nghiện bắt buộc xong bị cáo N H T trở về quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, do không có việc làm ổn định, nên bị cáo T thường đi lang thang lên tỉnh Bình Phước tìm việc làm.

Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 18/4/2023, bị cáo T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 51T8 – 3013 đi trên đường QL13 thuộc tổ 5, khu phố 1, thị trấn Tân Khai, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước thì nhìn thấy ở khu đất trống bên phải của tiệm nhôm kiếng “Thành Đạt” nằm bên phải đường QL13, theo hướng từ huyện Hớn Quản đi thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước có 01 cái túi đeo chéo màu nâu, nên dừng xe lại nhặt đeo lên người. Khi này, bị cáo T nhìn qua tiệm nhôm kiếng “Thành Đạt” do anh Từ Minh Kha làm chủ, thấy tiệm đang khóa cửa và không có ai trông coi, nên bị cáo T đã nảy sinh ý định đột nhập vào tiệm tìm tài sản trộm cắp để mang đi bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo T tìm xung quanh thì thấy có 02 thanh kim loại vuông dài 43cm, phần tay cầm được bọc cao su màu đen. Bị cáo T lấy 02 thanh kim loại này cầm trên hai tay đi đến cửa của tiệm nhôm kiếng được khóa ngoài bằng 01 ổ khóa Việt – Tiệp, rồi cậy ổ khóa làm ổ khóa bị bung ra. T mở cửa đi vào thấy có 03 cái máy khoan cầm tay, màu xanh-đen; 01 máy cắt kim loại cầm tay, màu xanh-đen; 01 máy khoan bê tông, màu xanh-đen-đỏ nên T lấy 01 sọt nhựa rồi lấy 03 cái máy khoan cầm tay, 01 máy cắt kim loại cầm tay; 01 máy khoan bê tông bỏ vào trong sọt rồi để sọt nhựa lên gác baga xe mô tô chạy ra đường Quốc lộ 13. Khi ra cửa, sợ bị người khác phát hiện nên bị cáo T nhặt 01 túi nylong màu đen ở bên hông tiệm, bỏ tài sản vừa trộm được vào trong túi, rồi bỏ túi nylong vào sọt nhựa, để lên gác baga xe, điều khiển xe chạy về thị xã Chơn Thành. Khi đi qua chợ Tân Khai thấy sọt nhựa để ở phía trước gác baga bị vướng, nên bị cáo T vứt sọt nhựa xuống khu đất trống bên phải đường.

Đến khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, khi bị cáo T đi đến khu phố 3B, phường Minh Hưng, thị xã Chơn Thành thấy 01 tiệm điện nước “Hoàng Hà” nên đi vào tiệm thì gặp anh Lưu Quang Hoàng, bị cáo T hỏi: “Anh có mua máy không?” thì anh Hoàng trả lời: “có”. Sau đó, bị cáo T lấy túi nylong màu đen đựng 03 máy khoan, 01 máy cắt, 01 máy khoan bê tông từ trên gác baga xe mang vào tiệm đưa cho anh Hoàng kiểm tra và nói: “Em đi làm công trình mà người ta thiếu tiền công nên lấy mấy cái máy này để gán nợ”. Kiểm tra xong, anh Hoàng mua với giá 1.200.000 đồng, bị cáo T đồng ý thì anh Hoàng đưa cho bị cáo T số tiền trên. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo T điều khiển xe mô tô đi lên thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước gặp một người đàn ông (không xác định nhân thân, lai lịch) ở khu vực khu phố Xa Cam, phường Hưng Chiến mua 200.000 đồng ma túy đá rồi đi vào lô cao su ở gần đó sử dụng một mình. Sau khi sử dụng xong ma túy đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo T một mình điều khiển xe mô tô đi về hướng thị xã Chơn Thành. Khi đi đến thị trấn Tân Khai, huyện Hớn Quản bị lực lượng Công an thị trấn Tân Khai tuần tra, kiểm tra rồi mời về trụ sở Công an để làm việc. Tại Cơ quan Công an, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên còn số tiền bán tài sản trộm được bị cáo T đã mua ma túy sử dụng và đã tiêu xài cá nhân hết.

Tiến hành kiểm tra chất ma túy trong nước tiểu của bị cáo N H T vào ngày 18/4/2023, xác định: N H T dương tính với chất ma túy Methamphetamin.

Tại Cơ quan Công an bị cáo N H T đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung nêu trên.

Ngày 19/4/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hớn Quản có Kết luận định giá số 22/2023/KL-HĐĐGTTTHS, kết luận:

- Giá trị của 01 máy khoan bê tông, hiệu Kenyo KB2-26, màu xanh-đen-đỏ, máy cũ do đã qua sử dụng gần 01 năm được giao dịch trên thị trường tại thời điểm ngày 18/4/2023 được định giá theo giá máy khoan bê tông đã qua sử dụng và được định giá là 650.000 đồng.

- Giá trị của 01 máy khoan sử dụng pin, cầm tay, hiệu Brushless, màu xanh-đen, không có pin kèm theo, máy cũ do đã qua sử dụng gần 01 năm được giao dịch trên thị trường tại thời điểm ngày 18/4/2023, được định giá theo giá máy khoan sử dụng pin đã qua sử dụng và được định giá là 600.000 đồng.

- Giá trị của 01 máy khoan sử dụng pin, cầm tay, hiệu Makita DHP 453, màu xanh-đen, không có pin kèm theo, máy cũ do đã qua sử dụng gần 01 năm được giao dịch trên thị trường tại thời điểm ngày 18/4/2023, được định giá theo giá máy khoan sử dụng pin đã qua sử dụng và được định giá là 1.000.000 đồng.

- Giá trị của 01 máy khoan sử dụng pin, cầm tay, hiệu Makita BL 1830B, màu xanh-đen, có pin kèm theo, máy cũ do đã qua sử dụng gần 01 năm được giao dịch trên thị trường tại thời điểm ngày 18/4/2023, được định giá theo giá máy khoan sử dụng pin đã qua sử dụng và được định giá là 650.000 đồng.

- Giá trị của 01 máy cắt cầm tay, hiệu Bosch GWS 060, màu xanh-bạc, đã qua sử dụng gần 01 năm được giao dịch trên thị trường tại thời điểm ngày 18/4/2023 được định giá theo giá máy cắt đã qua sử dụng và được định giá là 650.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt cơ quan điều tra chứng minh được là 3.550.000 đồng.

Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo N H T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo N H T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo N H T mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Vật chứng thu giữ, xử lý vật chứng:

- 01 máy khoan bê tông hiệu Kenyo KB2-26, màu xanh – đen – đỏ; 01 máy khoan sử dụng pin, cầm tay hiệu Brushless, màu xanh – đen, không có pin kèm theo; 01 máy khoan sử dụng pin, cầm tay hiệu Makita DHP 453, màu xanh – đen, không có pin kèm theo; 01 máy khoan sử dụng pin, cầm tay hiệu Makita BL 1830B, có pin kèm theo; 01 máy cắt cầm tay hiệu Bosch GWS 060, màu xanh – bạc. Đây là tài sản hợp pháp của anh Từ Minh Kha nên Cơ quan CSĐT trả lại các tài sản nêu trên cho anh Kha nên không xét đến.

- 01 xe mô tô biển số: 51T8-3013, nhãn hiệu: Angel II, màu đen-xanh, số máy: D025715, số khung: 7D025715. Tình trạng: xe cũ, không gương chiếu hậu bên trái, không có dàn áo, không yếm chắn gió, không hệ thống đèn, không dè chắn bùn phía trước. Qua tra cứu số khung, số máy đối với xe mô tô trên, kết quả xe mô tô trên có biển số đăng ký là 93T2-2592, do bà Ng Th L, sinh năm: 1963, nơi thường trú: ấp T H, xã A P, huyện H Q đứng tên chủ sỡ hữu. Qua làm việc với bà L xác định, xe mô tô trên do bà Loan mua mới vào năm 2007, dùng để làm phương tiện đi làm đến khoảng năm 2016 thì xe đã cũ nên bà Loan đã bán xe mô tô này còn bán cho ai bà Loan không nhớ. Qua làm việc với bị can N H T khai nhận xe mô tô trên được T mua lại của một người đàn ông đi mua ve chai với giá 500.000 đồng vào khoảng giữa tháng 4/2023 khi mua không có giấy tờ xe, ngày 18/4/2023, bị can T sử dụng xe mô tô trên để làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, do vậy đề nghị Tòa án tuyên tịch thu, sung công quỹ nhà nước.

- 01 túi đeo chéo, màu nâu, không có nhãn hiệu, kích thước dài 36cm, ngang 17cm đã cũ; 01 thanh kim loại vuông, chiều dài 43cm, rộng 02cm, màu xanh-đen, phần tay cầm được bọc bằng cao su màu đen; 01 thanh kim loại vuông, chiều dài 43cm, rộng 02cm, màu đỏ-đen, phần tay cầm được bọc bằng cao su màu đen; 01 ổ khóa, nhãn hiệu: VIỆT-TIỆP, màu vàng-xám, phần móc khóa màu trắng-xám, móp méo, bị gãy rời khỏi ổ khóa hiện không còn giá trị sử dụng, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu, tiêu hủy.

- Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại anh Kha đã nhận lại toàn bộ tài sản do bị cáo T chiếm đoạt, anh Kha không yêu cầu bồi thường thêm nên vấn đề dân sự không đặt ra.

Đối với số tiền 1.200.000đ mà anh L Q Hbỏ ra mua tài sản do T trộm cắp mà có, hiện tại anh Hoàng không yêu cầu T phải trả lại số tiền trên nên không xét đến.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Sự vắng mặt của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Do cần tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân, khoảng 13 giờ 20 phút ngày 18/4/2023, N H T đã thực hiện hành vi lén lút, chiếm đoạt tài sản của anh Từ Minh Kha ngụ tại tổ 5, khu phố 1, thị trấn Tân Khai, huyện Hớn Quản với tổng trị giá là 3.550.000 đồng.

Xét lời khai nhận tội của Bị cáo là phù hợp với lời khai của người Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với Biên bản xác định hiện trường, Kết luận định giá tài sản bị chiếm đoạt là 01 máy khoan bê tông hiệu Kenyo KB2-26, màu xanh – đen – đỏ; 01 máy khoan sử dụng pin, cầm tay hiệu Brushless, màu xanh – đen, không có pin kèm theo; 01 máy khoan sử dụng pin, cầm tay hiệu Makita DHP 453, màu xanh – đen, không có pin kèm theo; 01 máy khoan sử dụng pin, cầm tay hiệu Makita BL 1830B, có pin kèm theo; 01 máy cắt cầm tay hiệu Bosch GWS 060, màu xanh – bạc nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy khoan bê tông hiệu Kenyo KB2-26, màu xanh – đen – đỏ; 01 máy khoan sử dụng pin, cầm tay hiệu Brushless, màu xanh – đen, không có pin kèm theo; 01 máy khoan sử dụng pin, cầm tay hiệu Makita DHP 453, màu xanh – đen, không có pin kèm theo; 01 máy khoan sử dụng pin, cầm tay hiệu Makita BL 1830B, có pin kèm theo; 01 máy cắt cầm tay hiệu Bosch GWS 060, màu xanh – bạc có giá trị 3.550.000 đồng nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Xét hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ.

Xét về nhân thân: Bị cáo T là người có nhân thân xấu đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo là người nghiện ma túy. Bị cáo với việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thể hiện bị cáo vẫn chưa tu chí chấp hành pháp luật, nên cần thiết tiếp tục xử phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội với mức án nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người lương thiện và phòng ngừa chung.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bản thân bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn về tài sản nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- 01 máy khoan bê tông hiệu Kenyo KB2-26, màu xanh – đen – đỏ; 01 máy khoan sử dụng pin, cầm tay hiệu Brushless, màu xanh – đen, không có pin kèm theo; 01 máy khoan sử dụng pin, cầm tay hiệu Makita DHP 453, màu xanh – đen, không có pin kèm theo; 01 máy khoan sử dụng pin, cầm tay hiệu Makita BL 1830B, có pin kèm theo; 01 máy cắt cầm tay hiệu Bosch GWS 060, màu xanh – bạc. Đây là tài sản hợp pháp của anh T M K nên Cơ quan CSĐT trả lại các tài sản nêu trên cho anh Kha nên HĐXX không xem xét.

- 01 xe mô tô biển số: 51T8-3013, nhãn hiệu: Angel II, màu đen-xanh, số máy: D025715, số khung: 7D025715. Tình trạng: xe cũ, không gương chiếu hậu bên trái, không có dàn áo, không yếm chắn gió, không hệ thống đèn, không dè chắn bùn phía trước. Qua tra cứu số khung, số máy đối với xe mô tô trên, kết quả xe mô tô trên có biển số đăng ký là 93T2-2592, do bà N T L, sinh năm: 1963, nơi thường trú: ấp T H, xã A P, huyện H Q đứng tên chủ sỡ hữu. Qua làm việc với bà L xác định, xe mô tô trên do bà L mua mới vào năm 2007, dùng để làm phương tiện đi làm đến khoảng năm 2016 thì xe đã cũ nên bà L đã bán xe mô tô này còn bán cho ai bà L không nhớ. Qua làm việc với bị cáo N H T khai nhận xe mô tô trên được bị cáo T mua lại của một người đàn ông đi mua ve chai với giá 500.000 đồng vào khoảng giữa tháng 4/2023 khi mua không có giấy tờ xe, ngày 18/4/2023, bị cáo T sử dụng xe mô tô trên để làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, do vậy HĐXX tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- 01 túi đeo chéo, màu nâu, không có nhãn hiệu, kích thước dài 36cm, ngang 17cm đã cũ; 01 thanh kim loại vuông, chiều dài 43cm, rộng 02cm, màu xanh-đen, phần tay cầm được bọc bằng cao su màu đen; 01 thanh kim loại vuông, chiều dài 43cm, rộng 02cm, màu đỏ-đen, phần tay cầm được bọc bằng cao su màu đen; 01 ổ khóa, nhãn hiệu: VIỆT-TIỆP, màu vàng-xám, phần móc khóa màu trắng-xám, móp méo, bị gãy rời khỏi ổ khóa hiện không còn giá trị sử dụng, nên HĐXX tịch thu, tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lưu Quang Hoàng không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 1.200.000đ mà anh bỏ ra mua tài sản do bị cáo trộm cắp mà có, nên HĐXX không xem xét.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo N H T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và đề xuất mức hình phạt với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo N H T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo N H T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2023.

Tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

3. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số: 51T8-3013, nhãn hiệu: Angel II, màu đen-xanh, số máy: D025715, số khung: 7D025715. Tình trạng: xe cũ, không gương chiếu hậu bên trái, không có dàn áo, không yếm chắn gió, không hệ thống đèn, không dè chắn bùn phía trước.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 túi đeo chéo, màu nâu, không có nhãn hiệu, kích thước dài 36cm, ngang 17cm đã cũ; 01 thanh kim loại vuông, chiều dài 43cm, rộng 02cm, màu xanh-đen, phần tay cầm được bọc bằng cao su màu đen; 01 thanh kim loại vuông, chiều dài 43cm, rộng 02cm, màu đỏ-đen, phần tay cầm được bọc bằng cao su màu đen; 01 ổ khóa, nhãn hiệu: VIỆT-TIỆP, màu vàng-xám, phần móc khóa màu trắng-xám, móp méo, bị gãy rời khỏi ổ khóa.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 41/QĐ-VKS ngày 05/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước và Theo như mô tả của biên bản giao nhận vật chứng số 0005918 ngày 06/7/2023 giữa cơ quan Hỗ trợ tư pháp và Thi hành án hình sự và chi Chi cục thi hành án dân sự huyện Hớn Quản).

4. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh L Q H không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 1.200.000đ mà anh bỏ ra mua tài sản do bị cáo trộm cắp mà có, nên HĐXX không xem xét.

5. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo N H T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./. Nơi nhận :

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Phước;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Bình Phước;

- Phòng HSNV CA tỉnh Bình Phước;

- VKSND huyện Hớn Quản;

- Bộ phận HSNV CA Hớn Quản;

- Chi cục THADS huyện Hớn Quản;

- Nhà tạm giữ;

- Bị cáo; bị hại; đương sự.

- Lưu trữ;

- Lưu hồ sơ.

Đỗ Đình Thuyên THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Đình Thuyên Nơi nhận :

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Phước;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Bình Phước;

- Phòng HSNV CA tỉnh Bình Phước;

- VKSND huyện Hớn Quản;

- Bộ phận HSNV CA Hớn Quản;

- Chi cục THADS huyện Hớn Quản;

- Nhà tạm giữ;

- Bị cáo;

- Lưu trữ;

- Lưu hồ sơ.

Đỗ Đình Thuyên THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Đình Thuyên

Cỡ chữ