vanban.org

Bản án 64/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lâm Tấn Hải và Lâm Quốc Thi - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/HS-ST
Ngày: 06-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, TP.HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Khanh

2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiếu Hạnh

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thanh Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Lâm Quốc T. Sinh năm 1987 tại TP.HCM; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: xx CMT8, phường 15, quận Tân Bình, Tp.HCM; Nơi ở: YY Bầu Gốc, ấp 3, xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, TP.HCM; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lâm Minh Đ và bà: Huỳnh Thị Mỹ L; Vợ: Trần Thị Trúc A (ly hôn năm 2022) và 01 con (sinh năm 2010); Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 07/01/2020 bị Tòa án nhân dân Quận 12, TP.HCM ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng theo Quyết định số 37/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 06/12/2020; Nhân thân: Ngày 24/12/2013 bị Ủy ban nhân dân Quận 12, TP.HCM ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 992/QĐ-UBND, chấp hành xong ngày 26/12/2015; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 26/9/2022 hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2/ Họ và tên: Lâm Tuấn H. Sinh năm 1984 tại TP.HCM; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: XX ấp Trung Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Tp.HCM; Nơi ở: Nhà không số, tổ 44, khu phố 3, phường Tân Thới Nhất, Quận 12, Tp.HCM; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lâm Văn T và bà: Nguyễn Thị Đ; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 27/9/2022 hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Em Phạm Ngọc Bảo A, sinh năm 2005; Địa chỉ: XX ấp 2, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, TP.HCM (vắng mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Ngọc Đ, sinh năm 1974 (cha ruột của em Bảo A); Địa chỉ: XX ấp 2, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, TP.HCM (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Thái Thị Cẩm T, sinh năm 1990; HKTT: YY ấp Nhơn Thuận 1, xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ; Nơi ở: ZZ Bầu Gốc, ấp 3, xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, TP.HCM (vắng mặt).

2/ Ông Hồ Quốc Th, sinh năm 1990; HKTT: YY Phạm Văn Bạch, phường 12, quận Gò Vấp, TP.HCM. Nơi ở: ZZ Nguyễn Ảnh Thủ, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, TP.HCM (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 21/9/2022, Lâm Tuấn H và Lâm Quốc T cùng uống bia tại khu vực xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn. Do không có tiền tiều xài nên cả hai thống nhất đi cướp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài. T điều khiển xe máy biển số 65G1-329.37 chở Hải chạy lòng vòng tìm người có tài sản để cướp giật, khi đang lưu thông trên đường Bà Điểm 3, đến trước Trường THPT Bà Điểm, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn thì phát hiện Phạm Ngọc Bảo A (sinh năm 2005) đang đứng trên lề sử dụng điện thoại. T điều khiển xe ép sát vào Bảo A để Hải cướp giật điện thoại. Bảo A phản ứng, nắm kéo cổ áo của H làm cho H ngã xuống đường, H đứng dậy nhặt điện thoại dự định lên xe máy của T tẩu thoát, Bảo A đứng chắn trước đầu xe máy của T, thấy người dân và bảo vệ của trường cũng chạy đến vây bắt nên H liền ôm ngang người của Bảo A đẩy sang một bên làm Bảo A ngã xuống đường rồi lên xe để T chở tẩu thoát.

T điều khiển xe chở H đến chợ Tân Trụ, phường 15, quận Tân Bình để bán điện thoại. H đứng trông xe và chờ để T đem điện thoại vừa cướp giật vào gặp Hồ Quốc Th bán được số tiền 1.700.000 đồng, cả hai chia nhau tiêu xài. Khi bán điện thoại cho T thì T nói điện thoại của người em nhờ bán.

Đến ngày 26/9/2022, Lâm Quốc T đến Công an xã Nhị Thanh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đầu thú, khai nhận cùng với Lâm Tuấn H cướp giật điện thoại của Bảo A (BL 138-139).

Tại Kết luận định giá số 156/KL-HĐĐGTS ngày 29/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hóc Môn định giá điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màu trắng là 2.000.000 đồng (BL 47-50).

Vật chứng:

- Xe gắn máy hiệu Honda AirBlade màu trắng xám biển số 65G1-329.37, số khung RLHJF4617EZ435126, số máy JF46E7063345, là phương tiện T và H sử dụng phạm tội, kết quả xác minh xe do Thái Thị Cẩm T đứng tên chủ sở hữu, T cho Thi mượn xe để đi sang nhà người thân. T không biết Thi sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho Thái Thị Cẩm T.

- Điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 do Hồ Quốc Th giao nộp, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Phạm Ngọc Bảo A.

- 01 quần dài màu xám, 01 nón bảo hiểm là trang phục Hải mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản.

Về dân sự, Phạm Ngọc Bảo A đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác. Hồ Quốc Th không yêu cầu H và T bồi thường số tiền 1.700.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKS-H.HM ngày 07/02/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố các bị cáo Lâm Tuấn H và Lâm Quốc T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Ngày 21/9/2022, tại trước cổng Trường THPT Bà Điểm, đường Bà Điểm 3, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Lâm Quốc T và Lâm Tuấn H dùng xe máy làm phương tiện áp sát cướp giật điện thoại hiệu Samsung Galaxy A12 có giá trị 2.000.000 đồng của Phạm Ngọc Bảo A. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm và hành hung để tẩu thoát, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương nên cần truy cứu trách nhiệm hình sự để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Do đó, Viện Kiểm sát quyết định truy tố các bị cáo Lâm Quốc T và Lâm Tuấn H về tội “Cướp giật tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Bị cáo T có nhân thân xấu, trước đây ngày 24/12/2013 bị Ủy ban nhân dân Quận 12, TP.HCM ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh. Bị cáo có tiền sự là ngày 07/01/2020 bị Tòa án nhân dân Quận 12, TP.HCM ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 37/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 06/12/2020. Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự ra đầu thú. Tình tiết tăng nặng: không có.

Bị cáo H có nhân thân tốt thể hiện bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết tăng nặng: không có.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lâm Quốc T và bị cáo Lâm Tuấn H mỗi bị cáo từ 04 năm đến 05 năm tù.

Đối với Hồ Quốc Th khi mua điện thoại của Thi, không biết là tài sản do T phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự.

Đối với việc T đẩy Phạm Ngọc Bảo A ngã xuống đường, do không bị thương tích nên Bảo A không yêu cầu bồi thường.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Phạm Ngọc Bảo A đã nhận lại điện thoại, không yêu cầu bồi thường gì; ông Hồ Quốc Th không yêu cầu H và T bồi thường số tiền 1.700.000 đồng nên không đặt vấn đề giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại và 01 xe máy hiệu Honda AirBlade màu trắng xám biển số 65G1-329.37, Cơ quan điều tra đã trả xe cho chị Thái Thị Cẩm T nên không đề nghị xem xét lại.

- Đối với 01 quần dài màu xám, 01 nón bảo hiểm là trang phục H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo T và bị cáo H nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để các bị cáo có cơ hội phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay qua phần xét hỏi và tranh tụng công khai, bị cáo Lâm Quốc T và bị cáo Lâm Tuấn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Các bị cáo thừa nhận khoảng 15 giờ ngày 21/9/2022, tại trước cổng Trường THPT Bà Điểm, đường Bà Điểm 3, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Lâm Quốc T và Lâm Tuấn H đã có hành vi dùng xe gắn máy làm phương tiện áp sát cướp giật tài sản là điện thoại hiệu Samsung Galaxy A12 của bị hại Phạm Ngọc Bảo A. Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm và hành hung để tẩu thoát. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố nên Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lâm Quốc T và Lâm Tuấn H phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: trong vụ án này, bị cáo Thi là người rủ rê và giúp sức để bị cáo Hải trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nhưng hành vi của các bị cáo do nhất thời phạm tội, giữa các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc công việc cụ thể, do đó, hành vi của các bị cáo chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bằng hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo lắng cho người bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận không tốt trong nhân dân. Các bị cáo nhận thức rất rõ hành vi cướp giật tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cho bản thân, muốn có tiền tiêu xài, các bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trái pháp luật do mình gây ra và cần phải có hình phạt nghiêm để có giáo dục các bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm tương tự.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét thêm về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để có hình phạt tương xứng.

Đối với bị cáo H: bị cáo có nhân thân tốt thể hiện bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết tăng nặng: không có.

Đối với bị cáo T: bị cáo có nhân thân xấu, ngày 24/12/2013 bị Ủy ban nhân dân Quận 12, TP.HCM ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng. Bị cáo có tiền sự là ngày 07/01/2020 bị Tòa án nhân dân Quận 12, TP.HCM ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 06/12/2020. Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự ra đầu thú. Tình tiết tăng nặng: không có.

Với các tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung, nhưng có xem xét đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng như đã nêu trên để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”, do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không nghề nghiệp, không có việc làm. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về dân sự: bị hại Phạm Ngọc Bảo A và đại diện hợp pháp của bị hại là ông Phạm Ngọc Đ không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét lại (BL 124,126).

- Đối với 01 xe máy hiệu Honda AirBlade màu trắng xám biển số 65G1-329.37, Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc Môn đã trao trả xe cho chị Thái Thị Cẩm T quản lý sử dụng nên Hội đồng xét xử không xem xét lại (BL 140, 142).

- Đối với 01 quần dài màu xám, 01 nón bảo hiểm là trang phục H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Lâm Quốc T và bị cáo Lâm Tuấn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

2/. Về điều luật áp dụng:

2.1. Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lâm Quốc T 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2022.

2.2. Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lâm Tuấn H 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/9/2022.

3/. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 quần dài màu xám và 01 nón bảo hiểm màu đen.

(Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tạm giữ theo Lệnh nhập kho vật chứng số 30/LNK-HS ngày 09/01/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/02/2023).

4/. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Lâm Quốc T và Lâm Tuấn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5/. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ