vanban.org

Bản án 64/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cư M'Gar, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 28/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Sỹ M phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt Hồ Sỹ M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 05/09/2023. Về phần dân sự: Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự và Điều 48 Bộ luật hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm căp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Sỹ M phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN CƯM’GAR
TỈNH ĐĂKLĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/HS-ST
Ngày: 28/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Hồng Châu và ông Hoàng Duy Thanh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hoàng– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk

Đại diện VKSND huyện CưM’gar tham gia phiên Tòa: Ông Dương Hoàng Long - Kiểm sát viên

Ngày 28/11/2023 tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh ĐăkLăk, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 65/2023/HSST ngày 13 tháng 11 năm 2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2023/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Hồ Sỹ M; Tên gọi khác: không

Sinh năm: 1986; tại tỉnh Nghệ An.

Nơi ĐKHKTT: Xóm A, xã Đ T, huyện Y T, tỉnh Nghệ An.

Chỗ ở hiện nay: không có nơi ở nhất định

Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Sỹ V, sinh năm 1962 và con bà Hồ Thị T, sinh năm: 1962, hiện ông bà đang sinh sống tại Xóm A, xã Đ T, huyện Y T, tỉnh Nghệ An; Bị cáo có vợ thứ nhất là Nguyễn Thị P (sinh năm 1987, đã ly hôn); vợ thứ hai là Lương Thị H (sinh năm 1987, đã ly hôn), bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền sự: không; tiền án: 01. Ngày 23/6/2021 bị tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 02 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 21/02/2023, bị cáo chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Cư Mgar từ ngày 05/09/2023 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

- Những người bị hại:

+ Bà Nguyễn Thị Thanh L; sinh năm: 1975 (vắng mặt)

Trú tai: Tổ dân phố QT, TT E P, huyện Cư Mgar, tỉnh Đắk Lăk

+ Bà Trần Thị B; sinh năm: 1986 (vắng mặt)

Trú tai: Tổ dân phố Q T, TT E P, huyện C M, tỉnh Đắk Lăk

+ Bà Nguyễn Thị Th; sinh năm: 1971 (vắng mặt)

Trú tai: số C, đường NCT, Tổ dân phố Q, TT QP, huyện CM, tỉnh Đắk Lăk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 23/6/2023 và ngày 02/9/2023 Hồ Sỹ M đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện ČưM’gar, tỉnh Đắk Lắk. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 08 giờ, ngày 23/6/2023, Hồ Sỹ M đi xe ôm từ phường Tân Lập, thành phố Buôn Ma Thuột đến chợ thị trấn Ea Pốk, huyện ČưM’gar, tỉnh Đắk Lắk với mục đích tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến chợ thị trấn Ea Pốk, M nói với người đàn ông chạy xe ôm đợi bên ngoài chợ rồi M đi bộ vào cửa hàng tạp hóa của bà Nguyễn Thị Thanh L trong chợ thị trấn Ea Pốk thuộc tổ dân phố Quyết Thắng, thị trấn Ea Pốk thì gặp bà L đang bán hàng, M nói mua bánh kẹo và sữa rồi giả vờ vào bên trong để chọn hàng. Trong lúc M đi vào bên trong và nhìn xung quang thì thấy có 01 chiếc điện thoại di động hiệu ViVo Y31, màu trắng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 màu trắng đang để trên thùng giấy, sát tường gần nhà vệ sinh, lợi dụng lúc bà Lộc đang bán hàng cho khách không để ý, M lấy trộm 02 chiếc điện thoại di động trên bỏ vào túi quần rồi đi ra ngoài nói bà L đóng hàng cho Minh, khi bà Lộc đang đóng hàng thì M bỏ đi ra ngoài đến chỗ người đàn ông xe ôm đang đợi và bảo người này chở M về thành phố Buôn Ma Thuột. Khi người đàn ông xe ôm chở M về đến cổng siêu thị CoopMart, thành phố Buôn Ma Thuột thì M trả tiền xe ôm rồi đi bộ đến cửa hàng điện thoại di động Minh Quang 2 tại địa chỉ số 15, đường Lý Tự Trọng, thành phố Buôn Ma Thuột của anh Lê Quang Nhật bán 02 (hai) chiếc điện thoại di động đã trộm cắp được của bà L nêu trên, anh Nh hỏi M là điện thoại của ai, M nói là điện thoại của M nên anh Nhật mua chiếc điện thoại di động hiệu ViVo Y31, màu trắng với số tiền là 700.000đồng còn chiếc điện di động hiệu Redmi Note 12, màu trắng do bị nứt màn hình nên chỉ mua với số tiền là 400.000đồng. Số tiền bán điện thoại trộm cắp mà có M sử dụng để tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 04/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ČưM’gar ra Yêu cầu định giá tài sản số: 67/YC-ĐCSHS, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện ČưM’gar định giá đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu ViVo Y31, màu trắng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 màu trắng, bị nứt màn hình mà bà Nguyễn Thị Thanh L đã bị mất trộm vào ngày 23/6/2023. Tại Kết luận định giá tài sản số: 63/KL-HĐĐGTS, ngày 04/9/2023 Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện ČưM’gar, kết luận: Tại thời điểm ngày 23/6/2023 chiếc điện thoại di động hiệu ViVo Y31, màu trắng trị giá là 400.000đồng và chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 màu trắng, bị nứt màn hình trị giá là 2.200.000đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 08 giờ, ngày 02/09/2023, Hồ Sỹ M điều khiển xe mô tô biển số: 47B2-317.46 đi một mình từ thành phố Buôn Ma Thuột đến huyện ČưM’gar với mục đích tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến chợ thị trấn Ea Pốk huyện ČưM’gar, tỉnh Đắk Lắk, Minh để xe mô tô phía ngoài chợ rồi đi bộ vào trong chợ, khi M đi đến quầy mua bán trái cây của chị Trần Thị B thì M đi vào giả vờ mua trái cây thì M nhìn thấy có 01 chiếc điện điện thoại di động cảm ứng hiệu OPPO A16, màu xám trắng để trên một giá đựng hàng phía bên tay phải hướng từ ngoài đi vào trong quầy nên M nói với chị B lấy thùng xốp để đóng trái cây cho M, trong lúc chị Lý đi vào lấy thùng xốp, không để ý thì M lấy trộm chiếc điện thoại này bỏ vào túi quần rồi M nói với chị L là đi ra ngoài một lát quay lại nhưng M đi ra ngoài và bỏ đi.

Ngày 04/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ČưM’gar ra Yêu cầu định giá tài sản số: 67/YC-ĐCSHS, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện ČưM’gar định giá đối với chiếc điện điện thoại di động hiệu OPPO A16, màu xám trắng mà chị Trần Thị L đã bị mất trộm vào ngày 02/9/2023. Tại Kết luận định giá tài sản số: 63/KL-HĐĐGTS, ngày 04/9/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện ČưM’gar, kết luận: Tại thời điểm ngày 02/9/2023, chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A16, màu xám trắng trị giá là 2.300.000đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 09 giờ ngày 02/9/2023, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A16, màu xám trắng của chị Trần Thị L nêu trên thì Hồ Sỹ M điều khiển xe mô tô biển số 47B2-317.46 đi từ thị trấn Ea Pốk đến chợ thị trấn Quảng Phú, huyện ČưM’gar, tỉnh Đắk Lắk với mục đích tiếp tục tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến nơi, M để xe mô tô bên ngoài chợ rồi M đi bộ vào trong chợ, khi M đi đến quầy bán rau của bà Nguyễn Thị Th ở trước số nhà 75, đường Điện Biên Phủ, tổ dân phố 2, thị trấn Quảng Phú, huyện ČưM’gar, M giả vờ đi vào mua rau thì thấy có một chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 8, màu đen đang để trên thùng nhựa nơi bán rau của bà Th, lợi dụng sở hở lúc bà Th đang bán rau không để ý thì M đi đến lấy trộm chiếc điện thoại bỏ vào túi quần rồi bỏ đi ra ngoài và điều khiển xe mô tô đi về thành phố Buôn Ma Thuột để tìm nơi tiêu thụ 02 chiếc điện thoại đã trộm cắp được nêu trên.

Trên đường đi, M dừng lại kiểm tra thấy chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 8, màu đen, xung quanh màn hình điện thoại có một số chỗ bị nứt nham nhở nhưng vẫn sử dụng bình thường, tuy nhiên do điện thoại có cài mật khẩu màn hình nên M mang đến tiệm điện thoại “Thanh MOBI” ở địa chỉ số 216 Lê Hồng Phong, phường Thống Nhất, thành phố Buôn Ma thuột của anh Nguyễn Huy To để mở khóa mật khẩu màn hình. Khi đến nơi M nói với Toàn là điện thoại của M để lâu ngày không sử dụng nên quên mật khẩu mở màn hình nên anh To đồng ý mở mật khẩu màn hình cho M. Trong khi chờ mở mật khẩu màn hình chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 8, màu đen thì M điều khiển xe mô tô đi đến tiệm cầm đồ “Phút 89” ở địa chỉ số 41, đường Lê Duẩn, thành phố Buôn Ma Thuột để bán chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A16 màu xám trắng, khi đến nơi M gặp chị Trần Thị Kim Ng và anh Nguyễn Văn H là nhân viên tại tiệm cầm đồ “Phút 89”, M đưa chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A16, màu xám trắng đã trộm cắp được nêu trên cho chị Ng và anh H xem và nói đây là điện thoại của M muốn bán. Sau khi chị Ng và anh Ho xem điện thoại thì chị Ng nói với M chiếc điện thoại này mua được với số tiền là 1.500.000đồng thì M đồng ý bán chiếc điện thoại trên. Sau khi bán xong chiếc điện thoại di động OPPO A16, màu xám trắng thì M điều khiển xe mô tô quay lại tiệm điện thoại “Thanh MOBI” trả tiền công mở mật khẩu màn hình điện thoại cho anh To với số tiền là 150.000đồng rồi M nhận lại chiếc điện thoại và điều khiển xe mô tô bỏ đi một lúc rồi M quay lại bán chiếc điện thoại Redmi Note 8, màu đen nêu trên cho anh To với số tiền là 400.000đồng. Toàn bộ số tiền bán điện thoại trộm cắp có được nêu trên M đã sử dụng để tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 04/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ČưM’gar ra Yêu cầu định giá tài sản số: 67/YC-ĐCSHS, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện ČưM’gar định giá đối với chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 8, màu đen mà bà Nguyễn Thị Th đã bị mất trộm vào ngày 02/9/2023 nêu trên. Tại Kết luận định giá tài sản số: 63/KL-HĐĐGTS, ngày 04/9/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện ČưM’gar, kết luận: Tại thời điểm ngày 02/9/2023, chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 8, màu đen nêu trên trị giá là 1.700.000đồng.

Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 10/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar đã truy tố bị cáo Hồ Sỹ Minh phạm tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hồ Sỹ M đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Sỹ M; đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hồ Sỹ M và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Sỹ M về tội “trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Hồ Sỹ Minh từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời hạn phạt tù, tính từ ngày bắt tạm giam ngày 05/09/2023.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 chiếc xe mô tô biển số 47B2 – 317.46, nhãn hiệu: Honda, số loại: LEAD, màu sơn: Đỏ - đen, số máy: JF79E0095730, số khung: RLHJF7900HY02 7632, là tài sản của chị Trần Thị Mỹ Tr. Qua quá trình điều tra xác định khi M thực hiện hành vi trộm cắp thì chị Trà không biết, không liên quan, không hưởng lợi gì nên ngày 31/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ČưM’gar đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

- Đối với 01 quần Jean nam dài màu xanh; 01 áo khoác màu xám, 01 đôi dép quai ngang đế màu đen, quai dép có đường sọc trắng – đen; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ

- đen – trắng, phía trước có hình logo Yamaha, phía sau có in chữ Yamaha Ngọc Vũ 3, đây là trang phục mà Hồ Sỹ M đã mang mặc vào ngày 02/9/2023 khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, là tài sản hợp pháp của Hồ Sỹ M, đề nghị trả lại cho M sau khi truy tố, xét xử.

Về phần dân sự của vụ án: Bà Nguyễn Thị Thanh L có đơn yêu cầu Hồ Sỹ M bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 2.600.000đồng; Chị Trần Thị B có đơn yêu cầu Hồ Sỹ M bồi thường thiệt hại với số tiền là 2.300.000đồng; Bà Nguyễn Thị Th có đơn yêu cầu Hồ Sỹ M bồi thường thiệt hại với số tiền là 1.700.000đồng.

Bị cáo Hồ Sỹ M không đối đáp, tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ trong vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Huyện Cư Mgar, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Mgar, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Sỹ M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Mgar đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, người bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 08 giờ, ngày 23/6/2023, tại chợ thị trấn Ea Pốk, huyện ČưM’gar Hồ Sỹ M đã có hành vi trộm cắp 02 chiếc điện thoại di động hiệu ViVo Y31, màu trắng và di động hiệu Redmi Note 12 màu trắng của bà Nguyễn Thị Thanh L trị giá 2.600.000đồng. Ngoài ra vào khoảng 8 giờ ngày 02/9/2023, tại chợ thị trấn Ea Pốk và vào lúc 9 giờ tại chợ thị trấn Quảng Phú, huyện ČưM’gar, Hồ Sỹ M đã 02 lần có hành vi trộm cắp 02 chiếc điện thoại lần lượt là điện thoại di động hiệu OPPO A16, màu xám trắng của chị Trần Thị B trị giá 2.300.000đồng và điện thoại di động hiệu Redmi Note 8, màu đen của bà Nguyễn Thị Th trị giá 1.700.000đồng. Tổng giá trị tài sản mà M trộm cắp là 6.600.000đồng. Hành vi trên của bị cáo Hồ Sỹ M được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Mgar về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự và mức hình phạt là có căn cứ pháp luật.

Bị cáo Hồ Sỹ M là người có sức khỏe lao động nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, không phải lao động nên bị cáo Hồ Sỹ M đã lén lút trộm cắp tài sản của người khác. Bị cáo là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm tài của người khác đều bị xử lý. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, coi thường tài sản của người khác nên từ ngày 23/06/2023 đến ngày 02/09/2023 bị cáo Hồ Sỹ M đã thực hiện 03 trộm cắp tài sản có giá trị 6.600.000đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường pháp luật, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mà còn làm mất trật tự an toàn xã hội.

Ngày 23/06/2021, Bị cáo Hồ Sỹ M bị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án nhưng chưa được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó làm bài học mà bị cáo tiếp tục thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản có giá trị 6.600.000đ nên bị cáo Hồ Sỹ M phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội và thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm và phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Với tính chất mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy phải cách ly bị cáo Hồ Sỹ M ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đối với anh Nguyễn Hữu Ho đã cho Hồ Sỹ M thuê chiếc xe mô tô biển số 47B2 – 317.46 và những người liên quan gồm chị Trần Thị Mỹ Tr, Trần Thị N và anh Nguyễn Văn Hi không biết, không liên quan, không hưởng lợi gì đối với việc M sử dụng chiếc xe mô tô biển số 47B2 – 317.46 làm phương tiện đi trộm cắp. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ČưM’gar không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với anh Lê Quang Nh, Nguyễn Văn H, chị Trần Thị Kim Ng mua điện thoại do M mang đến bán và anh Nguyễn Huy To mở mật khẩu màn hình và mua điện thoại do M mang đến thì không biết đó là tài sản do M phạm tội mà có. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ČưM’gar không đề cập xử là có căn cứ.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu ViVo Y31, màu trắng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 màu trắng của bà Nguyễn Thị Thành L; 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A16, màu xám trắng của chị Trần Thị B; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 8, màu đen của bà Nguyễn Thị Th do trong quá trình điều tra không thu giữ được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ČưM’gar không đề cập xử lý là có căn cứ.

Về phần dân sự:

Tại phiên tòa bị cáo đã đồng ý tự nguyện bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thanh L số tiền 2.600.000đ, bồi thường cho bà Trần Thị B số tiền 2.300.000đ và bồi thường cho bà Nguyễn Thị Th số tiền 1.700.000đ nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận.

Về vật chứng vụ án:

- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ČưM’gar đã trả lại 01 chiếc xe mô tô biển số 47B2 – 317.46, nhãn hiệu: Honda, số loại: LEAD, màu sơn: Đỏ - đen, số máy: JF79E0095730, số khung: RLHJF7900HY02 7632 cho chị Trần Thị Mỹ Tr là chủ sở hữu hợp pháp.

- Trả lại 01 quần Jean nam dài màu xanh; 01 áo khoác màu xám, 01 đôi dép quai ngang đế màu đen, quai dép có đường sọc trắng – đen; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ

- đen – trắng, phía trước có hình logo Yamaha, phía sau có in chữ Yamaha Ngọc Vũ 3 cho Hồ Sỹ M là chủ sở hữu hợp pháp.

Về án phí:

Bị cáo Hồ Sỹ M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Sỹ M phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Hồ Sỹ M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 05/09/2023.

2. Về phần dân sự: Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự và Điều 48 Bộ luật hình sự:

Buộc bị cáo Hồ Sỹ M phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thanh L số tiền 2.600.000đ, bồi thường cho bà Trần Thị B số tiền 2.300.000đ và bồi thường cho bà Nguyễn Thị Th số tiền 1.700.000đ.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Trả lại 01 quần Jean nam dài màu xanh; 01 áo khoác màu xám, 01 đôi dép quai ngang đế màu đen, quai dép có đường sọc trắng – đen; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ

- đen – trắng, phía trước có hình logo Yamaha, phía sau có in chữ Yamaha Ngọc Vũ 3 cho Hồ Sỹ Minh là chủ sở hữu hợp pháp.

(Hiện các vật chứng trên đang được lưu giữ tại kho vật chứng của cơ quan Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar theo biên bản giao ngày 10/11/2023).

4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hồ Sỹ M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 330.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Cỡ chữ