- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo PHẠM VŨ L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo PHẠM VŨ L 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 08/02/2023).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên bố; Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2023/HS-ST Ngày 29-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Kiều Trung;
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Bùi Quốc Thìn;
2/ Ông Bùi Tấn Ba.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quang Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Trần Phi Phi – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2023/TLST – HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2023/QĐXXST – HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo: PHẠM VŨ L, sinh ngày 08/11/1992 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi thường trú: Thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Con ông Phạm Thanh H và bà Nguyễn Thị T; Vợ: Huỳnh Thị Mỹ V; Con: 02 người, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017;
Tiền án: Ngày 26/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 09/2020/HSST, đang trong thời gian chờ chấp hành án thì tiếp tục có hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 21/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 14/2020/HSST, tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự số 09/2020/HSST, ngày 26/6/2020 là 02 năm tù giam, bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 27/3/2022 và chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 11/01/2010, bị Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi ra Quyết định số 20/QÐ-UBND về việc áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở giáo dục về hành vi vi phạm pháp luật nhiều lần.
- Ngày 20/9/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 01 năm 03 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 71/2010/HSPT, đến ngày 31/8/2011 được đặc xá trở về địa phương.
- Ngày 25/11/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 03 năm tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 15/2013/HSPT, đến ngày 01/11/2015 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/02/2023 đến nay, bị cáo đang giam có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1993, nơi thường trú: Khu dân cư số 10, thôn L, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1975, nơi thường trú: Tổ X, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở: Số 146 đường N, Tổ X, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
+ Anh Bùi Văn L, sinh năm 1988, nơi thường trú: Tổ 6, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. (có mặt)
+ Anh Huỳnh Minh K, sinh năm 2001, nơi thường trú: Thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt).
+ Anh Phạm Thanh N, sinh năm 1998, nơi thường trú: Số 101/48/9 Tân Hóa, Phường 14, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 01/02/2023, PHẠM VŨ L (Sinh ngày: 08/11/1992, thường trú tại Thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu WINNER X màu xanh đen mang biển kiểm soát 76F1-306.28 chở vợ là Huỳnh Thị Mỹ V (Sinh năm 1992) và các con là Phạm Huỳnh Bảo A(Sinh năm 2012),Phạm Vũ Hồng P(Sinh năm 2017) về quê vợ ở xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi để thăm chơi. Khoảng l1 giờ 30 phút cùng ngày, PHẠM VŨ L điều khiển xe môtô biển kiểm soát 76F1-306.28, đội mũ bảo hiểm mượn của Phạm Thanh N(Sinh năm 1998, thường trú tại Thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi - bạn cùng thôn của PHẠM VŨ L), mặc áo khoác dài tay màu đen, quần dài màu đà (nâu), chân mang đôi giày thể thao màu trắng đen đi từ xã Bình Thạnh vào thành phố Quảng Ngãi để thăm bạn, đi theo tuyến đường Quốc lộ 1A. Khi đi trên đường Quốc lộ 1A đoạn thuộc thôn L, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi thì PHẠM VŨ L phát hiện có một đuờng bê tông giao nhau với đường Quốc lộ 1A nên điều khiển xe vào đó để đi vệ sinh. Trong lúc dừng xe để đi vệ sinh, PHẠM VŨ L phát hiện thấy 01 (Một) điện thoại di động màu xám đen và 01 (Một) cái ví da màu xám của Anh Nguyễn Thành T (Sinh năm 1993, ở thôn L, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi) để trên lan can gần cửa sổ phía trước nhà của Anh Nguyễn Thành T nhưng không có người trông coi. Lúc này, PHẠM VŨ L nảy sinh ý định trộm cắp những tài sản trên nên PHẠM VŨ L để xe mô tô ngoài đường bê tông rồi lén lút, bí mật đi bộ tiến vào vị trí để chiếc điện thoại di động và chiếc ví rồi thực hiện hành vi trộm cắp. Sau khi lấy trộm được những tài sản trên thì PHẠM VŨ L nhanh chóng điều khiển xe mô tô tẩu thoát ra Quốc lộ 1A đi đến thành phố Quảng Ngãi. Khi đến đoạn đường vắng gần Khu công nghiệp V-SIP thuộc xã Tịnh Phong, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, PHẠM VŨ L dừng xe mô tô lại mở ví kiểm tra, đếm được bên trong ví da có số tiền 8.950.000 đồng (tám triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) và một số giấy tờ tùy thân, thẻ ATM, PHẠM VŨ L lấy số tiền 8.950.000 đồng (tám triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) trong ví rồi vứt lại ví cùng giấy tờ tùy thân, thẻ ATM lại bên lề đường rồi tiếp tục điều khiển xe vào thành phố Quảng Ngãi. PHẠM VŨ L đến chỗ cửa hàng điện thoại “Tâm Như” tại số nhà 960 đường Quang Trung, thành phố Quảng Ngãi (do Anh Bùi Văn L, sinh năm 1988, thường trú tại tố X, phường C, thành phố Quảng Ngãi làm chủ) thì dừng xe để kiểm tra điện thoại nhưng điện thoại bị khóa màn hình có mật khẩu nên PHẠM VŨ L nhặt 01 cộng kẽm tháo SIM ra vứt bỏ rồi vào cửa hàng điện thoại “Tâm Như” để chạy lại chương trình của điện thoại trộm cắp với mục đích bẻ mật khẩu để bán. PHẠM VŨ L để lại điện thoại nêu trên tại cửa hàng rồi điều khiển xe trở về xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Đến chiều cùng ngày, PHẠM VŨ L chở vợ cùng 02 con từ xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn về lại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Đến trưa ngày 04/02/2022, PHẠM VŨ L đến tiệm điện thoại di động “Tâm Như” nhận lại chiếc điện thoại di động mà PHẠM VŨ L để lại tiệm để chạy chương trình và trả cho chủ tiệm điện thoại “Tâm Như” 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền phí chạy chương trình rồi cầm chiếc điện thoại này đến cửa hàng điện thoại “Thu Sương” ở số nhà 146 đường N, thành phố Q(do Bà Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1976, thường trú tạitổ X, phường N, thành phố Quảng Ngãi làm chủ) để bán cho Bà Nguyễn Thị Thu S với giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Đối với số tiền mặt và tiền bán điện thoại đã trộm cắp được tổng cộng là 10.950.000 đồng (Mười triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) PHẠM VŨ L dùng hết vào việc tiêu xài cá nhân.
Ngày 16/02/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Sơn có Kết luận định giá tài sản số 11/KL.HÐĐGTS kết luận chiếc điện thoại SAMSUNG GALAXY A22 5G màu xám đen trị giá 4.152.000 đồng (bốn triệu một trăm năm mươi hai nghìn đồng).
Như vậy, PHẠM VŨ L trộm cắp tài sản tổng cộng là 13.102.000 đồng (muời ba triệu một trăm lẻ hai nghìn đồng), gồm tiền mặt là 8.950.000 đồng (tám triệu chín trăm năm mươi ngàn đổng) và điện thoại SAMSUNG GALAXY A22 5G màu xám đen được định giá là 4.152.000 đồng (bốn triệu một trăm năm mươi hai nghìn đồng).
Tại Bản cáo trạng số 57/CT – VKS, ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo PHẠM VŨ L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xác định Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo PHẠM VŨ L về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật nên giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt PHẠM VŨ L với mức án từ 18 đến 24 tháng tù.
Đối với các đối tượng có liên quan trong vụ án:
Đối với hành vi của Bùi Văn L là người chạy chương trình (mở mật khẩu) điện thoại di động cho PHẠM VŨ L, hành vi của Nguyễn Thị Thu S là mua chiếc điện thoại di động do PHẠM VŨ L trộm cắp được. Tuy nhiên, Bùi Văn Lvà Nguyễn Thị Thu S không bàn bạc, thống nhất, hứa hẹn gì từ trước với PHẠM VŨ L về việc trộm cắp tài sản, không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có nên không đồng phạm với PHẠM VŨ L về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật Hình sự cũng như không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Đối với việc Phạm Thanh Ncho PHẠM VŨ L mượn xe môtô biển kiểm soát 76F1-306.28, Huỳnh Minh K cho PHẠM VŨ L mượn mũ bảo hiểm thì hoàn toàn không biết việc PHẠM VŨ L sử dụng những tài sản này để làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đồng thời, cũng không bàn bạc, thống nhất, hứa hẹn gì từ trước với PHẠM VŨ L. Do đó, hành vi của Phạm Thanh Nhật, Huỳnh Minh Kkhông đồng phạm với PHẠM VŨ L về tội Trộm cắp tài sản.
Về vật chứng và xử lý vật chứng:
- 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A22 5G màu xám đen. Đây là tài sản cá nhân của anh Nguyễn Thanh T nên Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho anh Tâm (BL 33).
- 01 (một) USB hiệu Cruzer Orbit 8GB thu giữ từ anh Mai Vũ A(Sinh năm 1990, thường trú tại thôn L, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi) là hàng xóm của của Anh Nguyễn Thành T. Sau khi tiến hành trưng cầu giám định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn đã trả lại cho anh Anh (BL 40).
- 01 (một) xe Winner màu xanh đen, biển kiểm soát 76F1-306.28. Qua điều tra xác định đây là tài sản của Anh Phạm Thanh N (Sinh năm 1998, ở tại Thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi) – em ruột của PHẠM VŨ L, Nhật đi làm tại thành phố Hồ Chí Minh nên để lại xe môtô trên cho PHẠM VŨ L đi làm. Khi PHẠM VŨ L sử dụng xe mô tô này để đi trộm cắp tài sản thì Phạm Thanh Nkhông biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Sơn đã trả lại cho anh Nhật.
- 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ có kính chắn gió, loại mũ Boss (Helmet). Qua điều tra xác định đây là tài sản của Anh Huỳnh Minh K (Sinh năm: 2001, ở tại Thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi). Anh Huỳnh Minh K cho PHẠM VŨ L mượn để đi về quê. Khi PHẠM VŨ L sử dụng mũ bảo hiểm này để đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì anh Khôi không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn đã trả lại cho anh Khôi (BL 36).
- 01 (một) đôi giày thể thao màu trắng đen; 01 (một) áo khoác dài tay màu đen; 01 (một) quần dài màu đà - là trang phục mà PHẠM VŨ L đã sử dụng trong lúc trộm cắp tài sản. Đây không phải là vật chứng trực tiếp của vụ án, tuy nhiên là tài liệu chứng minh đặc điểm nhận dạng của PHẠM VŨ L khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo PHẠM VŨ L các vật chứng trên.
Về dân sự: Anh Nguyễn Thành T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm về phần dân sự. Ngoài ra, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (BL 146).
Đối với số tiền 2.000.000 đồng PHẠM VŨ L bán điện thoại di động SAMSUNG GALAXY A22 5G màu xám đen cho Bà Nguyễn Thị Thu S, quá trình điều tra PHẠM VŨ L đã tác động gia đình bồi thường xong, hiện nay Bà Nguyễn Thị Thu S đã nhận lại số tiền trên và không yêu cầu khiếu nại gì (BL 151).
Ý kiến bào chữa, tranh luận của bị cáo: Bị cáo không bào chữa cũng như tranh luận, thống nhất về điều luật áp dụng, tội danh, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng khác cung cấp là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo PHẠM VŨ L đã khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo như bản cáo trạng đã truy tố, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng được thu giữ, các tài liệu về hiện trường và các chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 01/02/2023 PHẠM VŨ L có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1993, ở thôn L, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi số tiền mặt là 8.950.000 đồng và 01 điện thoại SAMSUNG GALAXY A22 5G màu xám đen trị giá 4.152.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản PHẠM VŨ L đã chiếm đoạt là 13.102.000 đồng (Muời ba triệu, một trăm lẻ hai nghìn đồng). Vì vậy, hành vi của bị cáo PHẠM VŨ L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể được pháp luật bảo vệ là quyền sở hữu tài sản của công dân. Vì thiếu sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức và muốn có tiền tiêu xài nhưng không cần bỏ sức lao động nên khi bị hại sơ hở trong việc quản lý tài sản thì bị cáo đã nảy sinh ý định lén lút trộm cắp tài sản, hành vi của bị cáo gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu về nhiều mặt đến đời sống xã hội và cuộc sống bình thường của người dân. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 11/01/2010, bị Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi ra Quyết định số 20/QÐ-UBND về việc áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở giáo dục về hành vi vi phạm pháp luật nhiều lần; Ngày 20/9/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 01 năm 03 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 71/2010/HSPT, đến ngày 31/8/2011 được đặc xá trở về địa phương; Ngày 25/11/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 03 năm tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 15/2013/HSPT, đến ngày 01/11/2015 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.
Ngày 21/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 14/2020/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 27/3/2022, chưa được xóa án tích nhưng đến ngày 01/02/2023 lại thực hiện hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” nên thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo nhiều lần vi phạm pháp luật bị xử phạt nhưng không ăn năn, hối cải mà lại tiếp tục phạm tội, qua đó thể hiện bị cáo là người xem thường pháp luật, vì vậy cần xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo khi áp dụng mức hình phạt.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về dân sự và xử lý vật chứng:
Về dân sự:
- Anh Nguyễn Thành T đã nhận lại điện thoại SAMSUNG GALAXY A22 5G màu xám đen, đã nhận tiền bồi thường 9.000.000 đồng từ gia đình bị cáo và không có yêu cầu bồi thường gì thêm về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
- Đối với số tiền 2.000.000đồng PHẠM VŨ L bán điện thoại di động SAMSUNG GALAXY A22 5G màu xám đen cho Bà Nguyễn Thị Thu S, quá trình điều tra PHẠM VŨ L đã tác động gia đình bồi thường xong, hiện nay Bà Nguyễn Thị Thu S đã nhận lại số tiền trên và không yêu cầu khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
- Anh Nguyễn Thanh Tđã nhận lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A22 5G màu xám đen; anh Mai Vũ Ađã nhận lại 01 (một) USB hiệu Cruzer Orbit 8GB; Anh Huỳnh Minh K đã nhận 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ có kính chắn gió, loại mũ Boss (Helmet) và đều không có yêu cầu, khiếu nại gì nên không đặt ra để giải quyết.
- Khi bị cáo PHẠM VŨ L sử dụng xe Winner màu xanh đen, biển kiểm soát 76F1-306.28 của Anh Phạm Thanh N (em ruột của PHẠM VŨ L) vào việc phạm tội thì anh Nhật không biết và không hưởng lợi gì từ việc phạm tội của PHẠM VŨ L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Sơn không thu giữ mà trả lại xe mô tô trên cho anh Nhật là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với 01 (một) đôi giày thể thao màu trắng đen; 01 (một) áo khoác dài tay màu đen; 01 (một) quần dài màu đà - là trang phục mà PHẠM VŨ L đã sử dụng trong lúc trộm cắp tài sản, đây không phải là vật chứng của vụ án nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.
Về vấn đề khác: Đối với hành vi của Bùi Văn Llà người chạy chương trình (mở mật khẩu) điện thoại di động cho PHẠM VŨ L, hành vi của Nguyễn Thị Thu Slà mua chiếc điện thoại di động do PHẠM VŨ L trộm cắp được. Tuy nhiên, Bùi Văn Lvà Nguyễn Thị Thu Skhông bàn bạc, thống nhất, hứa hẹn gì từ trước với Phạm Vù Linh về việc trộm cắp tài sản, không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có nên không đồng phạm với PHẠM VŨ L về tội “Trộm cắp tài sản” cũng như không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Sơn không khởi tố đối với Bùi Văn Lvà Nguyễn Thị Thu S về các tội danh nêu trên là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét ý kiến đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn: Đề nghị áp dụng pháp luật, tội danh, mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, dân sự và xử lý vật chứng như trên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo PHẠM VŨ L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo PHẠM VŨ L 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 08/02/2023).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo PHẠM VŨ L 01 (một) đôi giày thể thao màu trắng đen; 01 (một) áo khoác dài tay màu đen; 01 (một) quần dài màu đà (nâu) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/5/2023 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra – Công an huyện Bình Sơn với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo PHẠM VŨ L phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bán án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi (Phòng 7); - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - Nhà tạm giữ - Công an huyện Trà Bồng; - Công an (Đội CSĐT; Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ); VKSND; CC.THADS huyện Bình Sơn; - UBND xã Hành Thiện, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi (thay thông báo); - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đoàn Kiều Trung |