vanban.org

Bản án 64/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Huỳnh Thị Thu T. Bà T được ly hôn với ông Lê Thanh Tân.

Về con chung: Có một con chung tên Lê Huỳnh Thanh T, sinh ngày 02/8/1999; hiện nay đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Thu T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Thu T - Lê Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Huỳnh Thị Thu T. Bà T được ly hôn với ông Lê Thanh Tân.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31/7/2023
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Tấn Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Quang Đông

2. Bà Đặng Ngọc Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Nương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không có.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 173/2023/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 5 năm 2023, về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Huỳnh Thị Thu T; địa chỉ số A, Khóm B, Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)

* Bị đơn: Lê Ngọc T; địa chỉ số A, Khóm B, Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 10/5/2023 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Huỳnh Thị Thu T trình bày:

Sau khi tìm hiểu một thời gian bà và ông Lê Ngọc T tiến tới hôn nhân và có tổ chức lễ cưới theo phong tục, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã V (nay là thành phố V), tỉnh Vĩnh Long ngày 07/9/1998. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, không hòa hợp về tính tình, quan điểm sống; ông T hay ghen tuông nên đã ly thân từ đó đến nay. Bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Lê Ngọc T. Về con chung, có 01 con chung tên Lê Huỳnh Thanh T, sinh ngày 02/8/1999; hiện nay đã trưởng thành, có việc làm ổn định, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và về nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Lê Ngọc T không có bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Huỳnh Thị Thu T khởi kiện ông Lê Ngọc T có địa chỉ tại thành phố Vĩnh Long để yêu cầu xin ly hôn; cho nên, đây là vụ án dân sự tranh chấp về hôn nhân và gia đình “Ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn Lê Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng ông T vẫn cố tình vắng mặt, cho nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu T, Hội đồng xét xử thấy: Bà T và ông T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã V (nay là thành phố V), tỉnh Vĩnh Long ngày 07/9/1998, nên được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, không hòa hợp về tính tình, quan điểm sống nên vợ chồng đã ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Mặt khác, Tòa án đã thông báo cho ông T biết việc bà T xin ly hôn nhưng ông T không có ý kiến phản đối. Như vậy, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà T và ông T đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, bà T yêu cầu được ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Bà T, ông T chung sống có 01 con chung tên Lê Huỳnh Thanh T, sinh ngày 02/8/1999; hiện nay đã trưởng thành và có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Thu T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Huỳnh Thị Thu T. Bà T được ly hôn với ông Lê Thanh Tân.

2. Về con chung: Có một con chung tên Lê Huỳnh Thanh T, sinh ngày 02/8/1999; hiện nay đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Thu T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Buộc bà Huỳnh Thị Thu T chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002091, ngày 22/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long, nên bà T không phải nộp thêm.

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bà Lại Thanh Thủy biết, được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Ngô Thanh Tùng được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ