vanban.org

Bản án 64/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Ngô Bửu T, cho ông Ngô Bửu T ly hôn với bà Nguyễn Thị Cẩm V.

Về con chung: Giao một (01) con chung tên Ngô Bửu T1 sinh ngày 21/02/2011 cho bà Nguyễn Thị Cẩm V nuôi dưỡng. Ông Ngô Bửu T phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 10.000.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng là vào ngày 05 Dương lịch hàng tháng, thời điểm bắt đầu cấp dưỡng là k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Bửu T- Nguyễn T Cẩm V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Ngô Bửu T, cho ông Ngô Bửu T ly hôn với bà Nguyễn Thị Cẩm V.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T,
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19-9-2023
Về việc: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Kiều Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Lệ Hoa.

Bà Nguyễn Thị Tĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An xét xử công khai vụ án thụ lý số 96/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Ngô Bửu T, sinh năm 1966;

Địa chỉ: 2 M, phường A, Quận N, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1980;

Địa chỉ: A N, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An.

(Ông T, bà V vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21/3/2023 và các lời trình bày của ông Ngô Bửu T có nội dung:

Ông quen biết và kết hôn với bà Nguyễn Thị Cẩm V từ năm 2011 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố T, tỉnh Long An. Ông và bà V chung sống hạnh phúc một thời gian đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng mâu thuẫn về tình cảm, quan điểm, lối sống nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Bà V đã về nhà mẹ ruột ở từ năm 2022 cho đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông yêu cầu được ly hôn với bà V.

Về con chung: ông và bà V có 01 con chung tên Ngô Bửu T1 sinh ngày 21/02/2011. Khi ly hôn, ông yêu cầu bà V nuôi dưỡng 01 con chung, ông sẽ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 10.000.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 07/8/2023, ông có văn bản đề nghị Tòa án xem xét cho ông được vắng mặt trong quá trình tố tụng tại Tòa án.

Bị đơn, bà Nguyễn Thị Cẩm V vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Thị Cẩm V đã được Tòa án thực hiện việc niêm yết, tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà V không đến tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, phiên hòa giải do Tòa án tổ chức, không có văn bản thể hiện ý kiến của bà đối với yêu cầu ly hôn của ông T. Phiên tòa hôm nay, bà V cũng vắng mặt dù đã được tống đạt giấy báo hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu:

- Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ có đủ cơ sở nhận định quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà V đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.

Về con chung: bà V và ông T có 01 con chung chưa thành niên hiện đang sống với bà V nên đề nghị giao cho bà V nuôi dưỡng con chung theo nguyện vọng của ông T và ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của ông T.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Do ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: Ông Ngô Bửu T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Cẩm V có địa chỉ cư trú tại thành phố T nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An.

Về việc xét xử vắng mặt Nguyên đơn là ông Ngô Bửu T, Bị đơn là bà Nguyễn Thị Cẩm V: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập bà V đến các phiên tòa sơ thẩm nhưng bà V không chấp hành. Riêng ông T đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Ngô Bửu T và bà Nguyễn Thị Cẩm V tự tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố T, tỉnh Long An năm 2011 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời trình bày của ông T thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về tình cảm, quan điểm, lối sống nên thường hay cãi vã, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà V được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, biết được việc ông T yêu cầu ly hôn với bà nhưng bà không đưa ra những biện pháp cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông T. Như vậy, chứng tỏ rằng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà V và ông T đã có những mâu thuẫn không giải quyết được. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà V và ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của ông T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: bà V và ông T có 01 con chung tên Ngô Bửu T1 sinh ngày 21/02/2011. Do con chung đang sống với bà V nên ông T đề nghị giao bà V nuôi dưỡng con chung. Bà V không có ý kiến gì đối với yêu cầu của ông T. Hội đồng xét xử nhận thấy, con chung hiện đang sống chung với bà V ổn định nên tiếp tục giao con chung cho bà V nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Bà V không có ý kiến về việc yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T có ý kiến đề nghị được cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 10.000.000đ. Hội đồng xét xử xét thấy việc ông T đề nghị được cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 10.000.000đ là ý chí của ông T nên ghi nhận và thống nhất xác định thời gian cấp dưỡng nuôi con chung là vào ngày 05 Dương lịch hàng tháng, thời điểm bắt đầu cấp dưỡng là khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Ông T được quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết vì quyền lợi con chung, ông T, bà V có quyền xin thay đổi việc nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Hội đồng xét xử xét thấy, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án trên là có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng: ông T phải chịu chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 5.000.000đ theo quy định tại Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự, ông T đã nộp xong.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000đ, chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Ngô Bửu T, cho ông Ngô Bửu T ly hôn với bà Nguyễn Thị Cẩm V.

2. Về con chung: Giao một (01) con chung tên Ngô Bửu T1 sinh ngày 21/02/2011 cho bà Nguyễn Thị Cẩm V nuôi dưỡng. Ông Ngô Bửu T phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 10.000.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng là vào ngày 05 Dương lịch hàng tháng, thời điểm bắt đầu cấp dưỡng là khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Ông Ngô Bửu T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết vì quyền lợi con chung, ông Ngô Bửu T, bà Nguyễn Thị Cẩm V có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ngô Bửu T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Chuyển số tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0002212 ngày 28/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An thành án phí dân sự sơ thẩm, ông T đã nộp đủ.

Ông Ngô Bửu T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. *Nơi nhận:

Cỡ chữ